Sunday, May 19, 2013

Khám phá Ai Cập của thiên chúa giáo (Phần 3)



Kể từ ngày thứ 3, chúng tôi rời thủ đô Cairo và bắt đầu hành trình lang thang trong sa mạc để tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của thiên chúa giáo tại Trung Đông. Điểm đến đầu tiên của chúng tôi là Wadi El Natrun, một nơi giàu truyền thống lịch sử phát triển các dòng thầy tu thiên chúa giáo. Chuyến viếng thăm cộng đồng tu sĩ ở đây giúp chúng tôi có được cái nhìn rõ nét hơn về thế nào là tu hành theo kiểu thiên chúa giáo. Kết nối với những kiến thức đã tích lũy được trên băng ghế đại học, tôi nghĩ bản thân đã có được cái nhìn khá hòm hòm về tầm ảnh hưởng của thiên chúa giáo trong đời sống của những quốc gia xung quanh Địa Trung Hải và Châu Âu. Nhưng phải nói rằng những gì mà tôi trình bày dưới đây chỉ là một hạt cát so với những quyến sách dày cộp giải thích về thiên chúa giáo. 

Như các bạn đã biết, khi mà một tôn giáo được công nhận, chắc chắn tôn giáo đó phải có sự tồn tại của một quyển kinh thánh cũng như một bộ máy tổ chức chặt chẽ để có thể truyền đạo một cách hiệu quả. Đạo Hồi thì có kinh coran, đạo phật thì có kinh sutra, còn thiên chúa giáo thì có kinh thánh mà phương tây gọi là bible. Trong cuốn kinh này có rất nhiều phần kể về đời sống của chúa Jesus cũng như những lời răn của chúa. Tuy nhiên, những lời răn đó không phải lúc nào cũng là câu trả lời toàn diện cho cuộc sống của những người sùng đạo, đặc biệt là ở nhiều khía cạnh liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ như cưới xin, làm đám ma…Vì thế, cần phải “chế” ra những đạo luật mới để bổ sung vào chỗ thiếu. Nhiệm vụ đó một phần được hoàn thành bởi các tu sĩ thiên chúa giáo mà nguồn gốc thủy tổ sinh ra đầu tiên chính là trên đất Ai Cập.

Quay trở lại với những thế kỷ 4-5 sau công nguyên. Như đã giải thích trong phần đầu tiên, cộng đồng thiên chúa giáo dưới thời đế chế La Mã bị truy nã và tàn sát không thương tiếc. Phải chờ đến thời điểm đế chế La Mã đang suy yếu (bắt đầu từ thế kỷ thứ 4 sau công nguyên), cộng đồng thiên chúa giáo mới được công nhận quyền tự do tín ngưỡng và ít nhiều thoát khỏi cảnh phải sống chui lủi dưới lòng đất. Trong bối cảnh ấy, một số tu sĩ muốn tự tìm con đường tu hành riêng của mình, phỏng theo cách tu hành của chúa Jesus (tức là sống rất khắc khổ). Họ chủ động sống ẩn dật tại những nơi tận cùng của thế giới. Vậy ở môi trường nào thì được coi là sống khổ hạnh? Câu trả lời chính là tại sa mạc hoang vu với cái nóng hơn 40 độ. Sống khắc khổ, sống không tình dục, sống khiêm nhường, đó là triết lý sống của những tu sĩ này. Có thế mới biệt đời mình thật là hạnh phúc vì không phải kiêng mấy món trên. 

 Thế hệ tu sĩ đầu tiên cũng là những người thành lập ra tu viện và cộng đồng tu sĩ đầu tiên trong lịch sử thiên chúa giáo và không quá ngạc nhiên khi nhận thấy rằng tất cả các tu viện này đều được tìm thấy ở sa mạc khô cằn. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 7, mô hình phát triển kiểu tu viện này được du nhập vào Châu Âu, tạo tiền đề cho sự sinh ra của các dòng tu khác ở Pháp, Ý và Tây Ban Nha. Qua nhiều thế kỷ, với những biến động của lịch sử, không ít công trình kiến trúc cũng như cộng đồng thiên chúa giáo ở Ai Cập bị phá hủy, đặc biệt là kể từ khi Hồi giáo chính thức trở thành quốc giáo từ thế kỷ thứ 10. 

 Ngày nay, chỉ còn sót lại một vài cộng đồng tu sĩ, xoay quanh những tu viện nằm rải rác trong sa mạc. Chuyến đi của chúng tôi không đảm bảo thăm hết tất cả các tu viện này, một phần vì việc chúng nằm quá rải rác và không có hệ thống đường xá thuận lợi. Mặt khác, giữa tất cả các cộng đồng tu sĩ này ít nhiều có điểm chung nên chỉ cần thăm một hai nơi thí điểm. Trong bối cảnh này, Wadi El Natrun là một sự lựa chọn đúng vì nó không nằm quá xa so với thủ đô Cairo (khoảng 2h ôtô). 

 Nằm gần như trong một ốc đảo, Wadi El Natrun là một ví dụ điển hình cho cuộc sống của những người tu hành trong quá khứ. Sống thân cô thế cô trong một khu vực khỉ ho cò gáy này là biết bao nguy hiểm, từ bão cát cho đến những cuộc tấn công cướp bóc của dân du mục. Đó là lý do vì sao ngoài việc tu hành, những tu sĩ nơi đây đôi khi phải kiêm luôn vai trò là những chiến sĩ dũng cảm. Với nhu cầu phòng thủ để bảo vệ chính cộng đồng của mình, các tu sĩ tham gia vào việc xây dựng hệ thống thành lũy bao vây quanh các tu viện. Ở đây có cả thảy 4 tu viện và trong quá khứ, chúng đã phải chịu 6 lần tấn công từ các thế lực bên ngoài. Từ tấn công vũ trang, nhiều khi các cộng đồng nơi đây còn phải hứng chịu hiểm nguy từ dịch bệnh nữa. Vào thế kỷ 14, gần như cả Châu Âu và Trung Đông phải chịu làn sóng bênh hủi lớn chưa từng có trong lịch sử loài người. Nếu tôi nhớ không nhầm, 1/3 dân số của cả Châu Âu chết vì bệnh này. Dịch bệnh len lỏi đến từng khu phố, sang tận Châu Phi và len đến những vùng tận cùng của thế giới, trong đó có vùng sa mạc khô cằn của Wadi El Natrun, nơi cộng đồng tu sĩ tử thủ đằng sau hệ thống thành lũy xây bằng đất nện. 


Nói đến đây, tôi lại nhớ đến một số bộ phim Hollywood như “Season of the witch” nói về bối cảnh dòng tu sĩ thời kỳ trung cổ. Tất nhiên, nội dung bộ phim chỉ nói về nước Pháp, Israel và Syria nhưng làn sóng dịch bệnh hủi là một cột mốc lịch sử có thật, tạo nguồn cảm hứng để làm bộ phim này.  Bệnh hủi, vào thời kỳ mà khoa học chưa phát triển, người ta nghĩ đó là sự trừng phạt của chúa hoặc một loại bùa bả tà ma do một số phù thủy tạo nên. Chính sự tưởng tượng về các loại ta ma yếu quái này mà các bộ phim Hollywood đã tạo nên những kịch bản khá ly kỳ thu hút người xem. 

 Quay trở lại với Wadi El Natrun. Trong tiếng ả rập, wadicó nghĩa là thung lũng. Trên trục đường từ Cairo lên phía bắc là một khu vực rải rác các con hồ nhỏ, được tạo nên nhờ việc giữ lại nguồn nước mưa. Do nằm vị trí địa lý được bao bọc bởi các hồ này mà người Ai Cập đặt cho cái tên “thung lũng” mặc dầu chẳng có dãy núi nào bao quanh cả. Còn cái tên El Natrun thì sao? Natrun là một loại khoáng chất sodium, được triết xuất từ các thềm hồ xung quanh. Vào thời Ai Cập cổ đại,  người ta sử dụng chất này để ướp xác cho các vị pharaon. Wadi El Natrun là nguồn cung cấp chủ yếu cho loại khoáng sản này.  

 Thực tế chuyến thăm các tu viện ở Wadi El Natrun không giống như những gì tôi mường tượng. Sách vở đã thêu dệt lên một hình ảnh tu viện nằm lẻ loi trong sa mạc. Thế nhưng đó là hình ảnh của một tu viện đầu thế kỷ 20. 

 Wadi El Natrun ngày nay không còn là một sa mạc hẻo lánh nữa mà là cả một đô thị nhỏ với nhà cửa và đường xá bao vây quanh các tu viện và hệ thống thành lũy. Điều đó có nghĩa rằng cuộc sống thành thị đã len lỏi được đến đây và làm ảnh hưởng ít nhiều đến truyền thống ở ẩn của các tu sĩ. Thành lũy Wadi El Natrun có thể chống cự lại các cuộc công kích của dân du mục vào thế kỷ thứ 3, của quân đội hồi giáo vào thời trung cổ, thế nhưng nó không thể chống lại bước tiến của văn minh đô thị ở thế kỷ 21. Còn việc bước tiến đó được tiếp nhận thế nào, nó phụ thuộc vào cái nhìn của mỗi người. Chí ít, nếu nhìn vào thực tế, có thể thấy rằng sự phát triển đô thị xung quanh các tu viện phần nào giúp cải thiện đời sống của các tu sĩ. Đã có những phòng ngủ mới cho họ, đã có thêm các vườn rau cho họ, đã có thêm những khoảnh đất canh tác… chỉ có điều, liệu sự cải thiện sẽ mãi theo chiều hướng như vậy? Cách đây 1000 năm, các tu sĩ chỉ biết dùng giấy và mực thô sơ rồi dùng con lừa để chuyển văn thư. Còn ngày nay? Họ có thể dùng Internet và email. 

 Trước khi chúng tôi đến đây, công ty Ictus Voyages đã đặt trước lịch hẹn với một tu sĩ địa phương, cha Ruis. Và tất nhiên, cha dùng email để giao dịch. Điều đó đồng nghĩa với việc Internet đã làm thay đổi thói quen của tu sĩ. Khi mà Facebook, Youtube, Play Station đang tràn lan ở thế giới bên ngoài, liệu có một ngày nào đó chúng sẽ len lỏi vào cuộc sống hằng ngày của họ?  

 Vậy, mô hình phát triển của các tu viện thiên chúa giáo tại Ai Cập như thế nào? Đơn giản thôi. Ban đầu, vào những thế kỷ 4-5, những ẩn sĩ đầu tiên lùi về các khu vực hẻo lánh này để sống một cuộc sống tu hành rất khắc khổ và hầu như đơn độc. Họ thường chọn những nơi chí ít có nước để sống, một trong những nguyên nhân giải thích tại sao đa phần các tu viện đều nằm gần một nguồn nước hoặc cạnh một ốc đảo. Năm thì mười họa, họ mới tiếp xúc với một số cộng đồng dân thường sống gần đó. Những người ẩn sĩ đầu tiên này có vẻ rất được lòng dân tình địa phương vì họ có cái nhìn cuộc sống hướng thiện và hay cứu người. Sự “nổi tiếng” của các ẩn sĩ dần dần được truyền miệng đến tai những thế hệ tu sĩ sau và thế là lần lượt các vị tu sĩ mới mò đến để được thỉnh giáo. Họ chuyển đến xây một túp lều không quá xa nơi thế hệ tu sĩ đầu tiên đang ở và nhờ đó tạo lên một nhóm tu sĩ ở ẩn. Từ một nhóm nhỏ, họ trở thành một cộng đồng nhỏ sống kiểu tự cung tự cấp. 

 Theo dòng thời gian, với việc tiến hóa của cuộc sống tu hành, họ cùng nhau xây những khu vực cầu nguyện hoặc ăn uống tập thể. Đây là những yếu tố căn bản đầu tiên để tạo nên một tu viện : một nơi để cầu nguyện, một nơi để ở, một nơi để ăn, một khu vực đất canh tác, và cuối cùng là một hệ thống phòng thủ bao gồm chòi canh và tường thành để đề phòng các cuộc tấn công của bộ tộc du mục trong sa mạc.

 Chính sự hiểm nguy từ sa mạc là nguyên nhân chính khiến mô hình tu viện thiên chúa giáo ở Trung Đông nói chung rất khác so với các tu viện ở Châu Âu. Ban đầu, các ẩn sĩ sống trong các hang động hoặc túp lều riêng lẻ. Nhưng khi mà bộ tộc du mục tấn công quá nhiều, họ buộc phải xích lại gần nhau để tạo nên một cộng đồng an toàn hơn. Ban đầu, cộng đồng tu sĩ thỉnh thoảng tiếp xúc với thế giới bên ngoài nhưng do những nguy hiểm tiềm ẩn, họ ngày càng trở nên khép kín và dè chừng những người lạ xâm nhập vào bên trong tu viện. 

 Vào thời trung cổ, mỗi một tu viện giống như một pháo đài thực thụ với hệ thống phòng thủ khá kiên cố. Để củng cố thêm sự vững chắc, các cộng đồng tu sĩ cho xây các tu viện nằm gần nhau (khoảng 1km đổ lại) với mục đích tạo thành một quần thể các công trình kiến trúc phòng thủ để dễ hỗ trợ nhau trong trường hợp bị một thế lực bên ngoài tấn công dồn dập. Nhu cầu này cũng dễ hiểu vì ngay từ thế kỷ thứ 10, Ai Cập là lãnh thổ của người hồi giáo. Và khi mà xung đột giữa thiên chúa giáo và hồi giáo lên đỉnh điểm ở những thế kỷ 12-13, việc nằm ngay trong lòng tổ kiến hồi giáo thực sự là một mối nguy hiểm thường trực. Mô hình quần thể tu viện được thể hiện rất rõ tại Wadi El Natrun với sự hiện diện của 4 tu viện khác nhau, nằm cách nhau chừng 500m. Theo sổ sách ghi lại, vào thể kỷ thứ 11, nơi đây có khoảng 50 tu viện lớn nhỏ với vài trăm tu sĩ. 

 Không quá ngạc nhiên khi chúng tôi là nhóm khách du lịch duy nhất đặt chân đến đây. Trên 100 du khách đến Ai Cập, đại đa số đổ xô đến kim tự tháp, các bãi biển tuyệt đẹp dọctheo Biển Đỏ hoặc đi du thuyền dọc theo sông Nile. Có ai dở hơi tốn thời gian đến cái xứ khỉ ho cò gáy này để tìm hiểu về thiên chúa giáo hay trau dồi kiến thức? Mệt đầu.

Chỉ với 4 tu viện nhưng chuyến viếng thăm Wadi El Natrun cũng phải mất xấp xỉ 5h. Chúng tôi tiếp tục hành trình bằng con đường quốc lộ nối Cairo và Alexandria lên phía bắc. Trên trục đường này, chúng tôi dừng chân nghỉ đêm tại Anafora (cách Wadi El Natrun 35km về phía đông và Cairo 75km về phía bắc), tuy là một nơi nghỉ đêm vô danh trong con mắt khách du lịch nhưng lại rất nhiều nhóm khách du lịch hành hương thiên chúa giáo biết đến. Cũng phải thôi, được xây lên và quản lý bởi cộng đồng Coptic, mục đích chính của Anafora là để đón tiếp các nhóm người có thiên hướng sùng đạo thiên chúa giáo, nơi người ta có thể tận hưởng những khoảnh khắc yên tĩnh của sa mạc về đêm. 

 Tuy nhiên, Anafora không nghiêm cấm bất cứ du khách nào không phải đạo thiên chúa mà muốn ngủ qua đêm.  Tôi khá ấn tượng với cách bài trí bên trong của khu vực phòng cầu nguyện với thảm trải nhiều màu sắc sặc sỡ do chính trung tâm Anafora dệt. 

 Lạc vào Anafora như thể lạc vào một ốc đảo thiên chúa giáo giữa lòng Ai Cập hồi giáo. Tại đây, tất nhiên là đại đa số du khách đều theo đạo thiên chúa. Xung quanh khu vực nghỉ đêm là cả một khu vườn canh tác rộng lớn, nơi người dân địa phương trông rau và hoa quả để phục vụ bữa ăn cho khách. Điều đó đồng nghĩa với việc các bữa ăn ở đây phần lớn là ăn rau quả. Nhưng cũng có thịt nữa! Đó là điều khác biệt so với những người theo đạo Phật kiểu Việt Nam, hay ăn chay. 

 Các căn phòng ngủ ở đây đều được xây bằng rơm và đất nung. Nếu nhìn từ trên cao, sẽ nhận thấy tất cả các phòng được xếp thành hình dấu chấm hỏi với phòng cầu nguyện nằm ở vị trí dấu chấm. Tại sao lại có cách bài trí như vây? Theo cha Thomas, người quản lý ở đây, trong mỗi một đời người, ai cũng có lúc tự đặt cho mình câu hỏi làm thế nào để tu hành chính quả. 

 Phương pháp quản lý ở đây cũng rất thông minh. Dưới sự dẫn dắt của cha Thomas là khoảng 25 người đến đây làm việc từ thiện, họ tham gia vào tất cả các hoạt động của trung tâm như nấu ăn, phuc vụ ăn uống, dịch vụ phòng…một số bạn trẻ đến từ nhiều nơi trên thế giới, góp phần tăng thêm tính quốc tế của trung tâm. 

 Ngày tiếp theo trên hành trình khám phá tu viện là một ngày dài trên đường bụi bặm với khoảng hơn 300km. Đó là chặng đầu tiên trong chuyến đi mà tôi thấy nó dài lê thê. Chúng tôi ngồi mài đũng quần trong ôtô băng qua đại dương sa mạc như thể những con chiên của chúa đang rạo rực khí thế tiến về miền đất hứa, một nơi nào đó nằm gần ven biển Đỏ. Bản thân tôi thì thấy chặng đường đi chẳng có gì đặc sắc, sa mạc thì đẹp thật nhưng mà chỗ nào cũng giống chỗ nào nên chỉ sau vài tiếng thì bạn sẽ thấy oải ngay. Nhưng với những thành viên đoàn thì lại khác bởi họ là những người sùng đạo và có lòng tin vào chúa. Vì thế, điểm đến sắp tới của chúng tôi tạo cho họ một cảm giác gì đó rất hồi hộp. Trên chuyến xe, các thành viên không có khi nào ngừng trao đổi với tôi về tu viện Saint Antony,vị thánh rất nổi tiếng trong lịch sử các vị tu sĩ ở ẩn. Thậm chí có rất nhiều tranh nghệ thuật của những thế kỷ 16-18 tại Châu Âu tưởng tượng chân dung của vị tu sĩ này.  

 Cũng giống như quần thể tu viện ở Wadi El Natrun, tu viện Saint Antony được bao quanh bởi một hệ thống thành lũy nhằm mục đích phòng thủ chống lại những đợt tấn công của các bộ tộc du mục đến từ sa mạc. Một điểm đáng chú ý ở đây là người địa phương không sử dụng các khối đá rất sẵn từ mỏm núi xung quanh mà họ lại sử dụng gạch đất nung. Tại sao vậy? Đó là vì tại đất sa mạc Ai Cập, nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm rất lớn, từ -2 độ đến 50 độ. Với sự khác biệt quá lớn như vậy, các khối đã dễ bị vỡ lở, nhưng ngược lại gạch đất nung có chứa tố chất đàn hồi nên sẽ tồn tại lâu bền hơn. 

 Nằm trơ trọi giữa một vùng đất khô cằn nhưng lạ thay tu viện ngày nay không còn là một địa danh cô độc nữa. Nó đã trở thành một điểm đến du lịch ưa thích cuả những ai theo đạo thiên chúa giáo.  Không qúa ngoa khi nói rằng tu viện ở đây đã bị “du lịch hóa” bởi nguồn thu tài chính tiềm năng từ các phái đoàn du lịch thiên chúa giáo. Nhận biết được điều này, chính quyền địa phương đã đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng, cho xây hẳn một con đường rải nhựa dẫn thẳng đến cửa tu viện. 

 Ngoài ra, bên trong thì toàn những đồ lưu niệm liên quan đến Saint Antony : bút chì, tranh ảnh, nến, xâu chìa khóa. Đấy là chưa kể các sản phẩm như dầu ôliu, bánh ngọt, được quảng cáo là do chính tay các tu sĩ tại đây làm. Tôi nghĩ bụng : “đi tu kiểu gì mà bày vẽ ra đủ các loại đồ lưu niệm thế nhỉ? Chắc các tu sĩ ở đây toàn fake?” Có thể mới biết ranh giới giữa tu hành khổ hạnh và cám giỗ trần gian thật là mong manh. 

 Một điều thú vị nữa mà tôi nhận thấy ở chuyến viếng thăm này, đó là việc phương pháp tu hành của các tu sĩ không còn thuần túy như cách đây vài nghìn năm. Nó đã “tiến hóa” rất nhiều theo thuyết tiến hóa của Darwin. Đối với tôi, tu viện Saint Antony đơn thuần chỉ là nạn nhân của hiện tượng “Disneyland” hóa các địa danh du lịch. Nếu như các bạn đã từng một lần đến công viên Disneyland một lần thì chắc sẽ hiểu hàm ý của tôi. Bạn hãy tưởng tượng khi vào công viên này, tất cả những gì bạn nhìn thấy chỉ là công nghệ bài trí với mục đích tạo cảm giác bạn đang lạc vào thế giới của các bộ phim hoạt hình do Disneyland tạo ra, từ chú chuột Mickey đến nàng bạch tuyết. Tu viện Saint Antony có cái gì đó tương đương như vậy. Tại đây, các khu vực nhà ở cho tu sĩ được “bài trí” một cách nhân tạo để cố tình tạo cho du khách cảm giác rằng họ đang lạc vào cuộc sống tu hành của vài nghìn năm trước. Nhưng trên thực thế vẫn có một vài sơ hở…

 Hãy nhìn vào các ngôi nhà này, đây là các căn phòng dành cho các tu sĩ. Theo truyền thống trước kia, mỗi một căn phòng dành riêng cho một tu sĩ, họ sống biệt lập bên trong để có thể toàn tâm toàn ý cầu nguyện. Các bữa ăn được chuyển vào thông qua chiếc cửa sô nhỏ bên cạnh. Còn ngày nay, phương pháp đã thay đổi. Muốn gọi tu sĩ ra ăn cơm? Hãy sử dụng chuông điện tử bên cạnh cửa! Tôi tự hỏi có khi sắp tới người ta “nâng cấp”, trang bị hẳn cho tu sĩ Iphone hoặc Ipad cũng nên.

Chúng tôi được một vị tu sĩ ở đây kiêm hướng dẫn viên địa phương và giải thích một chút về tu viện này. Tôi sẽ không giải thích quá nhiều về những gì mà ông ta nói vì kiến thức liên quan nhiều đến chuyên môn (lịch sử thiên chúa giáo, nghệ thuật tranh vẽ trên tường…). Cái mà tôi muốn nói đến ở đây, một lần nữa. đó là việc vị tu sĩ này làm hướng dẫn viên “chuyên nghiệp” quá. Cứ như thể ông ta biết trước sẽ có những vị khách du lịch đến đây để ông ta “chăn”. 
  Đến gần cuối chuyến viếng thăm quần thể các khu vực bên trong tu viện, chúng tôi được mời ăn một loại bánh mì làm tại đây. Sau đó, vị tu sĩ dẫn chúng tôi đến thăm một căn phòng mà theo ông ta nói “ chỉ dành riêng cho các vị thôi nhé”. Và bên trong có gì? Trời! Cả một gian phòng toàn đồ lưu niệm : tranh vẽ, bưu thiếp, sách dịch sang đủ thứ tiếng, tất cả đều được niêm yết giá Usd dành cho khách du lịch. Và bên cạnh đó có một gian đồ lưu niệm khác được niêm yết bằng Lira Ai Cập dành cho người dân địa phương. 

 Sau khi đã thăm xong quần thể tu viện, vị tu sĩ dẫn chúng tôi ra ngoài thăm cái hang, nơi được cho là Saint Antony đã từng sống tu hành trong đó. Dưới cái nóng 35 độ không một bóng cây, chúng tôi phải leo khoảng 2800 bậc thang lên đỉnh núi để thăm một cái động, một nhiệm vụ quá khó khăn đặc biệt là với khá nhiều thành viên đoàn đã bước sang tuổi 50. Chỉ có tôi và thêm 3 người nữa là đủ máu lửa để tiếp tục hành trình. Thời điểm mà chúng tôi bắt đầu leo lên đã là 14h và nhiệt đỗ lúc đó cũng phải rơi vào tầm 35-38 độ. Vị tu sĩ đúng là khéo chọn thời điểm đúng lúc mặt trời lên cao nhất và trong tay tôi chỉ là một chai nước đang nóng dần lên bởi ánh nắng. 

 Sau chuyến đi ôtô 4 tiếng, giờ lại thêm một cuộc leo núi ngoạn mục nữa. Có lẽ đây là ngày mà tôi cảm thấy mình thực sự là một vận động viên thể thao chuyên nghiệp. Khi đã leo lên đỉnh rồi, tôi có được một cái nhìn toàn cảnh sa mạc từ trên cao, một khung cảnh hùng vĩ. Và phần thưởng xứng đáng dành cho những ai đủ kiên nhẫn leo lên đỉnh là chuyến viếng thăm cái hang mà Saint Antony ở. 

 Đôi lời về vị thánh này. Ông là một trong 4 vị tu sĩ đầu tiên khởi đầu phong cách tu hành khổ hạnh theo kiểu tự đào một cái lỗ, sống xa cách thế giới loài người, và chỉ tập trung vào cầu nguyện và nhịn ăn. Chính Saint Antony là người sáng lập là hệ thống các điều luật tu viện đầu tiên và cũng là người sáng lập tu viện đang nằm dưới chân núi hiện nay. 

 Khi từ trến đỉnh núi quay trở lại tu viện thì cũng đã đến cuối buổi chiều. Chúng tôi quay trở lại ôtô và nghỉ đêm tại Hurghada, cách tu viện Saint Antony 45km về phía nam.

Sunday, May 5, 2013

Khám phá Ai Cập của thiên chúa giáo (Phần 2)


Ngày thứ hai trên đất Ai Cập là một ngày rất nặng về chương trình. Chúng tôi bắt đầu hành quân đến Kim Tự Tháp từ rất sớm, ngay từ 9h sáng chúng tôi đã có mặt ở đó rồi. Tôi vốn dĩ không phải là người ưa thích thăm những địa danh có quá nhiều khách du lịch đặt chân đến. Tôi đã thấy có quá nhiều địa danh rất bình thường nhưng lại thu hút cả một đống khách đến chỉ để chụp ảnh rồi lại phủi đít đi (tháp nghiêng Pisa hay kim tự tháp ở viện bảo tàng Louvre). Đặt chân đến nước Ai Cập, tôi đã biết trước mình sẽ gặp phải những đối tượng khách du lịch như vậy nhưng kim tự tháp Ai Cập thì ở một đẳng cấp khác. Không thể không đến một lần trong đời cho dù biết rằng trải nghiệm rất có thể bị làm hỏng bởi phái đoàn vài trăm nghìn người khác cũng giống như tôi, đến để chiêm ngưỡng một cái gì đó mà họ luôn nhìn thấy qua phim ảnh.  Bị gò bó vào vai trò nhạc trưởng một tour du lịch trọn gói, có lẽ chẳng còn gì để nói ngoài cảm giác bức xúc vì phải quản lí thời gian và quán xuyến người khác. Nhưng thôi, cũng không thể được voi đòi tiên khi mà tour này tôi được phái đi nên chẳng mất xu nào.  Đến với kim tự tháp lần ấy, tôi phát hiện ra rằng chúng ta có quá nhiều điều tưởng nhầm về những câu truyện xung quanh kim tự tháp, một phần nhiều la do sự thêu dệt quá hoàn hảo của phim ảnh.


 Sau vài ngày khám phá những điểm chính của thủ đô Cairo, đoàn khởi hành tham quan điểm nhấn chính của cả lịch trình : kim tự tháp. Chỉ cách thủ đô Cairo khoảng 15km về phía tây nhưng tôi đã có thể thấy sự khác biệt rõ rệt giữa sự sôi động của đô thị và sự cô lập của sa mạc. Ngay từ xa, dưới ánh nắng chói chang, tôi đã có thể nhìn thấy 3 chiếc kim tự tháp sừng sững. 

 Chỉ có điều dù ở xa hay gần thì phần lớn khách du lịch cũng chỉ có thể chiêm ngưỡng chúng từ bên ngoài chứ không được vào trong. Cái này cũng có nguyên nhân của nó. Kim tự tháp bị bão cát sói mòn rất nhiều và cần được bảo quản từ bên trong nên cần phải hạn chế số lượng người vào. Chỉ có duy nhất kim tự tháp Kheops là châm chước chấp nhận 150 du khách vào buổi sáng và 150 người khác vào buổi chiều. Theo luật của chính phủ, các nhà tổ chức tour trọn gói không được phép book vé đoàn nữa vì thế đoàn của tôi cũng chỉ có thể xem bên ngoài. 

hầu như chỉ có những du khách thăm Ai Cập theo dạng tự túc thì mới có dịp thăm bên trong kim tự tháp. Còn với các đoàn du lịch trọn gói như của tôi, chỉ có thế chiêm ngưỡng từ bên ngoài
 Tuy rằng ai ai cũng chỉ nhìn thấy 3 kim tự tháp to đùng nhưng không mấy ai để ý rằng quần thể kiến trúc ở khu cao nguyên Gizeh này là cả một khu nghĩa địa khổng lồ với nhiều công trình lớn nhỏ rất phức tạp. Ngoài 3 cái kim tự tháp nổi tiếng (Kheops, Chefren, Mycerinus) được xây để chôn cất 3 vị vua Pharaon cùng tên, đây cũng là nơi chôn cất của gia đình vua và của những gia đình quý tộc rồi thì cả một đống nhà thờ, đền, …. Chính vì thế, các chuyên gia khảo cổ thống nhất chia cao nguyên Gizeh thành 2 nhóm lăng mộ : nhóm của những « cấp trên » bao gồm kim tự tháp và lăng mộ của giới quý tộc. Nhóm thứ hai là quần thể lăng mộ dành cho dân thường hoặc những người thuộc tầng lớp xã hội thấp hơn. Có một sự khác biệt lớn về mặt cấu trúc của hai nhóm này : nhóm thứ nhất thì được cấu tạo bởi các khối đá granit lấy ra từ lòng đất, còn nhóm thứ hai thì chỉ được tạo ra nhờ việc khoan đục trực tiếp các lỗ trong lòng đất và dân thường sống ở trong các lỗ đó. 

Xung quanh quần thể kim tự tháp là một « đội quân » lạc đà hùng hậu đứng chờ khách du lịch đến để kiếm chác, cũng giống như những gì tôi đã trải qua ở Jordan, Syria hay Thổ Nhĩ Kỳ. 

cưỡi lạc đà và chụp pô ảnh trước kim tự tháp, một giây phút đáng đồng tiền bát gạo
 Tất nhiên là tôi chẳng ngu gì sử dụng dịch vụ này đơn giản vì giá đặc biệt cắt cổ và lạc đà thì hôi hám thôi rồi. Việc tôi đã từng cưỡi lạc đà khám phá sa mạc vài ngày ở Marốc hay Jordan khiến tôi cảm thấy việc phải trả 5$ cho việc cưỡi và chụp ảnh ở đây là quá lố bịch. 

 Kim tự tháp Kheops được xây cách đây 4500 năm và là công trình kiến trúc duy nhất còn sót lại trong số 7 kỳ quan của thế giới cổ đại.  Nói đến điểm này thì phải chi tiết hơn một chút, chính xác là chỉ có kim tự tháp Kheops thì mới được xếp hạng một trong 7 kỳ quan, không phải là cả 3. Có lẽ cũng chỉ có duy nhất kim tự tháp mới có đủ đẳng cấp để chống chọi lại sự sói mòn của thời gian, như câu thành ngữ mà người ả rập thường sử dụng : “con người sợ thời gian nhưng thời gian thì sợ kim tự tháp”.  Chẳng phải nói gì nhiều về số lượng giấy mực mà các chuyên gia phải bỏ ra để tìm hiểu những nguyên nhân bí ẩn đằng sau công nghệ xây dựng của người Ai Cập cổ đại để tạo ra quần thể lăng mộ cao 146m này. Phần lớn các giả thuyết đều cho rằng kim tự tháp được xây lên như là một lăng mộ khổng lồ dành cho vua Kheops (vì người ta tìm thấy chiếc quan tài granit trống rỗng) và để xây nó thì mất khoảng 20 năm. 

Còn làm sao mà người Ai Cập cổ đại có thể xây được một công trình kiến trúc khổng lồ với công nghệ thô sơ thời ấy thì vẫn chưa có câu trả lời thích hợp. Những giả thuyết mới đây nhất cho rằng cả 3 kim tự tháp ngoài vai trò là lăng mộ của Pharaon thì có thể có thêm những chức năng khác. Thật vậy, việc 4 góc vuông nền móng tương ứng với 4 điểm đông-tây-nam-bắc có thể là để phục vụ cho lĩnh vực thiên văn. Nhờ vào sự thay đổi bóng chiếu của kim tự tháp từ ánh mặt trời, người Ai Cập cổ có thể phỏng đoán được tương lai của mùa màng hay thiên tai lũ lụt. Mặt khác, kim tự tháp rất có thể là cầu nối tiễn đưa Pharaon bất tử đến thế giới vĩnh hằng ở bên kia. Có thể chữ “bên kia” này là nguồn gốc của một số giả thuyết cho rằng kim tự tháp có mối quan hệ với người ngoài hành tình và nó đóng vai trò như “cổng trời” để họ đổ bộ xuống trái đất. Một giả thuyết rất phù hợp để dựng các bộ phim viễn tưởng Hollywood. 


để ghép những khối đá như thế này, đã không biết bao nhiêu người bỏ mạng
Lại nói đến Hollywood, các bộ phim thường nói rằng kim tự tháp được xây từ bàn tay của hàng ngàn nô lệ. Ta lại nhớ lại hình ảnh những người nô lệ tội nghiệp phải vác những tảng đá khổng lồ và bị đánh đập dã man bới hội cường hào áp bá. Nhưng thực tế thì không phải vậy. Những cuộc khai quật gần đây cho thấy rằng phần lớn những người đóng góp vào việc xây dựng kim tự tháp không phải nô lệ mà chủ yếu là thợ thủ công được Pharaon trả tiền.

các nhà khảo cổ tìm ra được bức tường bao bọc, đánh dấu giới hạn chính thức của quần thể kiến trúc kim tự tháp trên cao nguyên Gizeh
 Dân chúng ở những làng mạc xung quanh Gizeh hoàn toàn tự nguyện tham gia vào công trường khổng lồ này bằng cách đóng góp sức người hoặc của cải vật chất. Điều đó cho thấy rằng việc xây kim tự tháp có ý nghĩa tôn giáo tâm linh và là biểu tượng của sự đoàn kết thống nhất của dân tộc Ai Cập cổ đại, chứ không hoàn toàn là do bị vua Pharaon tàn bạo ép buộc. Tất nhiên, những điều đó chỉ đúng dưới thời của vị vua Kheops. Và rất có thể những thế hệ Pharaon tiếp theo đã có sự thay đổi về cách nhìn của người dân về việc xây kim tự tháp cũng như việc các vị vua sử dụng ngày càng nhiều nô lệ để bổ sung nhân lực cho những công trình xa hoa của họ.

không quá xa kim tự tháp là một mỏ quặng khai thác đá granit, nơi người Ai Cập đẽo gọt những tảng đá vài tấn
 Vậy người Ai Cập lấy đâu ra nguyên liệu để xây kim tự tháp ? Câu trả lời nằm ở chính nơi nó sinh ra. Nằm trên cao nguyên Gizeh, người Ai Cập đã cho khai thác một quặng đá granit khổng lồ để triết xuất ra những tảng đá nặng hàng chục tấn. Họ đào sâu xuống lòng đất tầm 30m và đẽo gọt để lôi ra những khối đá vuông thành sắc cạnh. Và để hoàn thành một ngọn núi như kim tự tháp thì phải huy động rất nhiều nhân lực, phải nuôi họ, cho họ ở, xây kho chứa dụng cụ xây dựng. Vì thế, chẳng có gì ngạc nhiên khi cả một làng mạc ngay cạnh quặng đá granit được tìm thấy vùi sâu trong lòng đất. Người ta tìm thấy xương người, đồ sành sứ phục vụ cho việc ăn uống hàng ngày…
khác với khu vực kim tự tháp, vốn dĩ là lăng tẩm khổng lồ yêu cầu phải triết xuất những khối đá khổng lồ từ lòng đất, những thợ xây Ai Cập tận dụng luôn những lỗ hổng lòng đất để làm nơi tạm trú
Các nhà khảo cổ tìm được nhiều vật dụng mà người dân Ai Cạp sử dụng trong thời gian họ phục vụ cho việc xây dựng kim tự tháp.
Vì là nơi rất linh thiêng nên các nhà khảo khổ khai quật được nhiều di vật liên quan đến tín ngưỡng của người Ai Cập cổ đại. Ngay dưới chân kim tự tháp Kheops, người ta đào được những mảnh vỡ của một chiếc tàu được cho là biểu tượng của thế giới vĩnh hằng. Theo truyền thuyết, cứ mỗi đêm, thần mặt trời Rê trèo thuyền đến cõi chết đánh đuổi bọn quỷ dữ cho đến khi mặt trời mọc thì mới trèo thuyền quay trở lại cõi thường và bay lên trời. Việc sử dụng chiếc thuyền này để cúng tế tại kim tự tháp có ý nghĩa ẩn dụ, như thể tiễn đưa pharaon quá cố đến nới vĩnh hằng vậy. Theo phong tục, thuyền được sử dụng để chở linh cữu pharaon qua sông Nil để làm nghi lễ truy điệu. Sau đó, thuyền đưa pharaon đến kim tự tháp và tại đây, thuyền được tách ra thành từng mảnh mà chôn dưới chân kim tự tháp. Nó giống như kiểu Việt Nam mình hóa vàng mã một con thuyền bằng giấy với ý nghĩ rằng ở thế giới bên kia pharaon cũng sẽ sử dụng được chiếc thuyền đó để đi đến cõi vĩnh hằng.

ngay bên cạnh kim tự tháp Kheops, các nhà khảo cổ tìm được một hố chôn cả một con thuyền phục vụ cho tang lễ của pharaon. Nó có tên là "solar boat", mặt trời tượng trưng cho quyền lực tối cao của Pharaon
 Cái đáng nói ở cuộc khai quật này là những mảnh vỡ của tàu được làm bằng gỗ thông nhưng nhờ công nghệ bảo quản của người Ai Cập cổ đại, nó không hề bị mục ruỗng mặc dù 5000 năm đã trôi qua. Với 1224 mảnh vỡ tìm được, các chuyên gia đã thành công trong việc lắp ráp nó trở lại thành một con thuyền hoàn chỉnh. Tất cả được đặt trong một căn phòng bảo tàng đặc biệt  nằm ngay cạnh kim tự tháp Kheops. Công nghệ đóng tàu của người Ai Cập cổ đại cũng rất đáng nể. Họ không hề dùng bất cứ đinh đóng nào mà chỉ sử dụng kỹ thuật đan các tấm ván rồi lấy dây buộc với nhau.
từ những mảnh vụn, một con thuyền hoàn chỉnh được lắp ráp lại và trưng bày trong một căn phòng cách ly với cái nóng bên ngoài
Thêm một chi tiết nữa, có thể là do đây là đoàn Pháp mà tôi dẫn và cũng có thể vì người Pháp có nhiều công lao trong lĩnh vực khảo cổ Ai Cập nên khi thăm kim tự tháp ở đây tôi tìm hiểu được một câu chuyện thú vị liên quan đến một chuyên gia tên Antoine Bovis. Vào năm 1930, trong một lần thăm bên trong kim tự tháp Kheops, ông ta phát hiện ra những xác chuột chết bị héo khô nhưng lại được bảo quản rất tốt mà không hề sử dụng bất cứ hóa chất nào. Ông ta nghi ngờ rằng cách xây dựng kim tự tháp có thể là một nguyên nhân dẫn đến việc xác chết được bảo quản tốt.   Khi trở về Pháp, ông ta cũng làm thí nghiệm trong khu vườn nhà mình, cũng làm thử mô hình kim tự tháp thu nhỏ với các hướng đúng y như mô hình ở Ai Cập. Rồi ông ta thử để xác chết một con mèo vào ngay chính giữa mô hình, giống như vị trí của căn phòng chứa quan tài Pharaon. Và kết quả là xác chết mèo cũng được bảo quản tốt như vậy. Ông ta làm nhiều thí nghiệm khác và đều nhận được kết quả tương tự và thế là ông ta đưa ra một kết luận : hình dáng kiểu kim tự tháp cộng với hướng của nền móng đem lại hiệu ứng “ướp xác”.

Những bộ phim Hollywood về kim tự tháp có thể thổi phồng nhiều điều về sự nguy hiểm khi xâm nhập vào bên trong : axít, bẫy chông, bọ hung ăn thịt người…Nhưng có một điều đúng : mức độ an toàn dành cho nơi để quan tài pharaon. Người Ai Cập cổ đại cố tình làm cho đường dẫn vào khó khăn bằng cách cho chắn những tảng đá granit to đùng và các chỗ nối giữa tảng đá rất khít đến mức một lưỡi banh xe lam cũng khó có thể lọt qua.

để tăng cường sự an toàn cho lăng tẩm pharaon, vào thời ấy, các đường vào được bảo vệ chặt chẽ hoặc bằng lực lượng bảo vệ dày đặc hoặc bằng hệ thống cửa chặn kiên cố...
hoặc qua những con đường bí mật cách xa kim tự tháp vài trăm mét
 Tuy nhiên, có thể là do nội gián hay bằng tiểu xảo nào đó, kim tự tháp Kheops bị những kẻ ăn cắp xâm nhập vào ngay từ thế kỷ 20 trước công nguyên. Những nhà khảo cổ học thế kỷ 19 đã đến quá muộn khi xâm nhập được vào phòng để quan tài Pharaon, tất cả đã biến mất ngoài chiếc vỏ quan tài đã bị mở. Không những bị mất cắp của cải, kể cả những tảng đá kim tự tháp cũng bị lấy đi phục vụ cho việc xay dựng các công trình kiến trúc cổ ở thủ đô Cairo. Phải chờ đến đầu thế kỷ 20 khi mà phong trào bảo tồn di sản quốc gia nổi lên thì chính phủ Ai Cập mới nghiêm cấm nạn lấy cắp vật liệu xây dựng trái phép từ cao nguyên Gizeh.

xưa kia, các con đường chính dẫn đến kim tự tháp đều có mái lợp và tường phủ hai bên. Trên bề mặt tường được điêu khắc rất phong phú. Tuy nhiên, tất cả đã bị phá hủy và ngày nay chỉ còn trơ trọi những nẻo đường mòn ngổn ngang đá vụn
Ngay phía trước kim tự tháp án ngữ tượng nhân sư. Trái với những gì người ta tưởng tượng, tượng nhân sư không phải  được tạc tự một khối đá mà là một tác phẩm điêu khắc trực tiếp từ một tảng đá granit khổng lồ. Tảng đá này xưa kia nằm giữa một quặng đá mà người Ai Cập khai thác phục vụ cho việc xây kim tự tháp.


Thân và đầu tượng nhân sư là do điêu khắc trên đá tạo ra, còn phần tứ chi được tạo ra từ các khối đá độc lập rồi người ta mới gắn vào thân. Theo như những gì chuyên gia tìm được dựa trên vết tích trên bề mặt, rất có thể tượng này được phủ 100% bằng một lớp thạch cao có trộn màu : mặt và thân màu đỏ còn vành mai rắn hổ mang màu vàng và xanh nước biển. Nhưng theo dòng thời gian với sự hủy hoại của gió và cát cộng thêm những đợt công phá bằng đại bác của quân ngoại xâm, lớp vỏ bọc này biến mất hoàn toàn.

ngay từ khi máy ảnh được phát minh vào cuối thế kỷ 19, các nhà khảo cổ đã cho chụp lại kim tự tháp. Tư liệu cho thấy tượng nhân sư bị trôn vùi khá sâu trong lòng đất
vài thập kỷ sau đó, có thể thấy công trường khai quật có tiến triển đáng kể khi thân tượng nhân sư được hiện ra một phần
 Hàng năm, chính phủ Ai Cập phải huy động một lực lượng nhân công thường trực với nhiệm vụ quét bớt một phần lớp cát phủ lên sau mỗi một đợt bão cát từ sa mạc đổ tới. Còn về cái mũi và cái râu cằm bị mất, trước kia người ta đổ tội cho quân thực dân Anh hoặc quân Napoléon (thế kỷ 19). Tuy nhiên, theo một bức họa vào thế kỷ 18, tượng nhân sự đã bị mất cả mũi và râu rồi.

trong một thời gian dài, người ta vẫn đổ lỗi cho những nòng súng thần công của Napoléon cuối thể kỷ 18 
Với công nghệ khoa học tiên tiến, kẻ phạm tồi này đã được định dạng : một tên quận chúa Ai Cập thế kỷ 14. Hiện nay, chiêc râu đã được tìm thấy và trưng bày ở viện bảo tàng British Museum ở London (người Anh từ chối trao trả lại cho Ai Cập), còn cái mũi thì vĩnh viễn không tìm thấy.


Nếu như bạn hỏi các du khách cảm nhận của họ như thế nào sau khi được tận mắt chứng kiến một trong những 7 kỳ quan tuyệt đỉnh nhất thế giới cổ đại, chắc chắn tỉ lệ số người thất vọng sẽ không cao. Có thể kim tự tháp trên thực tế không đẹp đẽ như những lời văn thêu dệt của báo chí hay phim ảnh, nhưng chỉ đứng trước nó và ngắm nhìn thôi cũng đã là một cảm giác khó tả. Chuyến viếng thăm của tôi không quá lâu, chỉ với 3 tiếng đồng hồ nhưng tôi nghĩ đó cũng đã là một khoảnh khắc đủ để có được cảm nhận đầu tiên về Ai Cập cổ đại, một nền văn minh mà tôi còn có dịp tìm hiểu sâu hơn rất nhiều qua chuyến đi du lịch bụi thứ hai vào năm 2011. 

Chào tạm biệt kim tự tháp, chúng tôi quay trở lại thủ đô Cairo và tìm hiều một khía cạnh khác của thành phố, một khía cạnh mà không phải bất cứ khách du lịch nào cũng muốn khám phá : khu phố ổ chuột Mokhattam, với biệt danh “thành phố rác thải”. Nghe ghê tởm quá phải không? Nếu một  khách du lịch chỉ đến Ai Cập để hùng hục thăm những thắng cảnh nổi tiếng nhất quốc gia, chắc hẳn họ sẽ nghĩ trong đầu rằng phải thần kinh có vấn đề thì mới dỗi hơi bỏ cả một buổi chiều đến thăm một nơi xấu xí, bẩn thỉu . 

  Người ta du lịch để thăm cái đẹp chứ ai lại tôn vinh cái xấu làm gì. Đúng vậy, thế nên chúng tôi xác định đến Mokhattam không phải để thăm danh lam thắng cảnh mà là để tìm hiểu cuộc sống và gặp gỡ một cộng đồng thiên chúa giáo chiếm phần đông ở khu phố này (dù gì thì tôn giáo cũng là chủ đề chính xuyên suốt hành trình 8 ngày trên đất Ai Cập). Cộng đồng này bị gán cho cái tên Zabbaleen, trong tiếng ả rập có nghĩa là “người hót rác”. Tất cả bắt đầu từ những năm 1950 khi mà những người Ai Cập thiên chúa giáo này di cư từ miền nam Ai Cập đến thủ đô để kiếm việc. Tôn giáo như một vết nhơ trong hồ sơ, họ không kiếm nổi một việc làm tử tế ở trung tâm và buộc phải kiếm công việc tái chế rác thải tại Mokhattam. 



Ngày nay, 40.000 người dân theo đạo công giáo của Mokhattam sống chủ yếu nhờ việc tái chế rác. Văn hóa thải rác của người Ai Cập khá giống người Việt chúng ta, nghĩa là cứ tống đủ các loại rác vào một cái túi ni lông to. Trong đó thì cái gì cũng có : hộp các tông, giấy má, thức ăn thừa, chai lọ… Có một điều khác ở thủ đô Cairo là người ta không có mấy cô lao công đi kẻng giác. Mỗi một căn hộ chung cư đều có một nhân viên trông coi nhận nhiệm vụ quản  lý vườn tược, dọn dẹp lối đi chung và thu nhận các túi rác mà các hộ gia đình để trước cửa. 

  Họ thu hồi rác, lục lọi để xem có “chiến lợi phẩm” nào có thể sử dụng được rồi sau đó chuyển tất cả rác thải ra ngoài đường chính. Một chiếc xe tải to đùng sẽ đến từng khu phố hốt hết số rác đó và chuyển tất cả đến Mokhattam nơi xử lý rác thải của toàn thành phố. 

 Đến với Mokhattam, bạn sẽ thấy người dân nơi đây tổ chức phân chia rác thải chuyên nghiệp như thế nào, mặc dù họ chỉ là những người dân lao động không có bất cứ chỉ huy nào từ phía chính quyền địa phương. Khu phố được chia làm nhiều khu tổ hợp tái chế rác khác nhau và các hộ gia đình có khuynh hướng chỉ làm việc tại một tổ hợp nhất định.  Nếu nhìn từ tầng thượng của một tòa nhà, bạn sẽ có cảm giác như lạc vào thế giới của ngày tận thế với những ngôi nhà 5 tầng xuống cấp và chỉ được xây bằng gạch cốt thép chưa được sơn bả đến nơi đến chốn. Nhà nhà đều chật ních rác. Có vẻ như rác là người bạn đồng hành với các hộ gia đình. Sống chung với rác, chắc hẳn 100% dân ở đây đều gặp các vấn đề về đường hô hấp

 Khu phố Mokhattam là sự tương phản giữa cuộc sống đời thường của người dân (bản thỉu) và khu vực hành đạo (rất sạch sẽ). Ẩn nấp đằng sau những đống rác thải hôi hám bẩn thỉu này, nằm trên đỉnh núi là một công trình kiến trúc mà không mấy ai nghĩ đến : nhà thờ Saint Samaan nằm sâu trong hẻm đá. Đây là nơi mà gần 20.000 tín đồ sùng đạo thường lui tới để cùng cầu nguyện và tỏ lòng kính chúa. 

  Lý do tại sao phải xây nhà thờ chui lủi trong hẻm đá thì khá rõ : cộng đồng thiên chúa giáo chưa bao giờ được đón chào nồng nhiệt trong một quốc gia Hồi giáo. Người thiên chúa giáo Ai Cập (hay còn gọi là người Coptic) không bao giờ dám công khai tôn giáo của họ. Tại đây, mỗi đứa trẻ sinh ra nếu như được rửa tội theo nghi lễ thiên chúa giáo thì mục sư thường khắc xăm một hình dấu cộng vào mặt cổ tay trong để chứng nhận đứa trẻ đó sẽ theo công giáo trong tương lai. Có thể một người theo đạo thiên chúa giáo Ai Cập không cho bạn đến nhà chơi, không đeo vòng cổ thánh giá nhưng nếu như bạn bắt tay và bắt gặp dấu xăm thánh giá trên cổ tay thì bạn có thể chắc chắn rằng anh ta theo đạo công giáo.

 Quay trở lại với nhà thờ aint Samaan, mặc dù chỉ được xây lên vào năm 1974, lịch sử phát triển của khu vực này lâu hơn thế rất nhiều. Truyền thuyết kể lại rằng vào thế kỷ thứ 10 sau công nguyên, vua Ai Cập triệu tập các tôn giáo tồn tại trong quốc gia đến để trao đổi giao lưu về tôn giáo. Trong số đó có thiên chúa giáo và đạo do thái. Hai đạo này cãi nhau như chó với mèo. Các người đứng đầu đạo do thái thách thức người thiên chúa giáo rằng nếu chúa của họ thực sự tồn tại thì hãy phù phép để di chuyển ngọn núi ngự trị trên khu phố Mokhattam, còn nếu không thì tất cả tín đồ thiên chúa giáo trên lãnh thổ quốc gia sẽ bị xử trảm. 

truyền thuyết về phép màu của thánh Saint Simaan được tái hiện qua tác phẩm điêu khắc trên bề mặt đá
 Trong một giấc mơ, giáo chủ thiên chúa giáo được đức mẹ đồng trinh Maria báo mộng rằng cần phải gặp một người chột mắt tên Simaan nhờ ông ta phù phép thì sẽ thành công. Tỉnh dậy, người đàn ông mang tên Simaan được thỉnh cầu và đúng như lời báo mộng đã phù phép di chuyển cả ngọn núi Mokhattam. Tâm phục khẩu phục, vua Ai Cập cho hủy lệnh truy tố cộng đồng thiên chúa giáo. Để tưởng niệm sự kiện này, một nhà thờ được xây lên đẻ tỏ lòng cảm ơn vị thánh Saint Simaan. 

Sau những buổi tái chế rác thải, người dân sùng đạo lại đến nhà thờ cùng nhau cầu nguyện để tỏ lòng sùng kính chúa Jesus
 Trời xẩm tối cũng là lúc chúng tôi rời khu phố Mokhattam quay trở về trung tâm phố cổ Cairo để tham dự buổi biểu diễn văn nghệ truyền thống được tổ chức miễn phí bởi đoàn văn nghệ Al Tannoura. Trong vòng khoảng hơn 1 tiếng , chúng tôi được tận hưởng những giây phút chóng mặt bởi điệu nhảy Sufi Dance. Diễn ra trong khuôn viên cung điện Wikalat Al Ghouri, chương trình biểu diễn điệu nhảy Sufi Dance là một trong những trải nhiệm thú vị nhất cho bất cứ du khách nào đến thủ đô. Ai Cập không chỉ có điệu múa bụng belly dance mà còn có cả món này nữa. Điều đặc biệt là Sufi Dance hoàn toàn miễn phí và chỉ có 2 lần 1 tuần. Thế nên vào mùa cao điểm, không quá ngạc nhiên khi tất cả các chỗ ngồi đều bị các hãng lữ hành tậu hết vé cho các đoàn khách du lịch của họ. Một số vị khách lẻ may mắn lắm thì dành được vài tấm vé những cũng phải xếp hàng dài dằng dặc trưởng cổng vào thì mới mua được. Show diễn chỉ bắt đầu từ 8h tối nhưng ngay từ 7h đã có những nhóm khách tranh thủ đến trước để xí những chỗ ngồi ngon nhất.

 Khác với điệu múa bụng lừng danh, điệu nhảy Sufi Dance ít nhiều có yếu tố tâm linh bởi trước kia điệu nhảy này là một phần trong nghi lễ Hồi giáo ở Trung Đông. Điều đó đồng nghĩa với việc điệu nhảy Sufi Dance không chỉ có ở Ai Cập mà còn có ở một số quốc gia Hồi giáo khác nữa. Sau này khi đi phượt sang Thổ Nhĩ Kỳ, tôi mới biết ở đó cũng có Sufi Dance nhưng tôi không có dịp xem. Tại Ai Cập, điệu múa Sufi Dance còn có tên gọi khác là tannoura, tên của loại áo dài mà các vũ công nam sử dụng trong khi biểu diễn. Còn các vũ công có tên gọi là darvesh, trong tiếng ả rập có nghĩa là “vũ công quay tít thò lò”

 Theo truyền thống, những bước nhảy của Sufi Dance có nhiều hàm ý tôn giáo. Trong đội nhảy bao giờ cũng có một người ở chính giữa biểu tượng cho mặt trời và các người khác ghép thành hình tròn bây quanh biểu tượng cho chòm sao của hệ thái dương. Từ cách ăn mặc cho đến điệu nhạc, tất cả ít hay nhiều đều có những thông điệp ẩn dụ liên quan đến đạo Hồi. Các vũ công ban đầu ăn mặc toàn màu trắng, dần dần họ để lộ ra những xiêm y màu sắc sặc sỡ và cuối cùng họ lại để hiện ra bộ màu trắng ban đầu. 

 Hàm ý của việc bắt đầu bằng màu trắng và kết thúc bằng màu trắng giống như thuyết luân hồi của một đời người : người ta sinh ra từ số không và chết đi cũng sẽ quay lại số không để rồi bắt đầu một kiếp mới cũng bằng số không. Các vũ công mặc tổng cộng 4 lớp váy màu sắc khác biệt chồng chất lên nhau, tượng trưng cho 4 mùa trong năm. Trong quá trình nhảy, họ cởi bỏ dần 4 lớp váy này, tượng trưng cho sự chuyển giao từ mùa này sang mùa khác, cũng như một đời người phải trải qua 4 quá trình sinh lão bệnh tử.  

 Điểm đặc biệt của điệu nhảy Sufi Dance là việc các vũ công quay tít thò lò, khiến cho  các tà áo trên người quay theo tạo nên những hình tròn đa sắc, trong rất lộng lẫy. Người ta nói rằng để chuẩn bị cho điệu nhảy này, các vũ công phải mặc trên mình những bộ áo nặng tới 10kg, trong khi thời tiết ở Ai Cập thì lúc nào cũng nóng trên 30 độ! 

 Họ quay tốc độ nhanh đến chóng mặt trong vòng hơn 40 phút. Ấy thế mà sau đó mặt họ tỉnh bơ, không biểu hiện bất cứ một nét mặt nào cho thấy họ bị lao đao chóng mặt cả. Đúng là tài thật. Khi mà buổi biểu diễn kết thúc, rất nhiều du khách đi đứng chệnh choạng vì bị “lây” cảm giác chóng mặt từ các vũ công. Tôi đêm ấy, tôi ngủ thật là ngon sau khi trải qua một ngày kín lịch.