Sunday, June 30, 2013

Các bài viết về Ai Cập

Khám phá Ai Cập của thiên chúa giáo : phần 1 | phần 2 | phần 3 | phần 4  (xem bản đồ lịch trình)

Khám phá Ai Cập của thiên chúa giáo (Phần 4)



Tọa lạc bên bờ biển Đỏ, Hurghada nổi lên như một trung tâm quốc tế về du lịch biển. Mới chỉ cách đây vài chục năm, Hurghada chỉ là một ngôi làng chài tầm thường nhưng giờ đây hàng loạt resort hạng sang mọc lên như nấm phục vụ nhu cầu du khách  Châu Âu đặc biệt là người Đức và người Ý. Với những bãi biển cát mịn và dải san hô tuyệt đẹp cộng thêm ánh nắng ấm áp suốt năm, Hurghada không khác gì Phuket của Thái Lan và du khách đến đây chỉ để nằm dài tắm nắng hoặc lặn sâu xuống ngắm san hô, hoặc đơn thuần là tham gia thác loạn thâu đêm trong những hộp đêm sôi động. 


 Đặt chân đến Hurghada vào buổi tối, tất cả thành viên đoàn không tránh khỏi cảm giác sốc trước sự thay đổi quá đột ngột về không gian. Mới sáng hôm đó, chúng tôi còn thăm tu viện Saint Antony tĩnh lặng giữa lòng một sa mạc  hoang vu, nơi chỉ có những người sùng đạo viếng thăm, đem theo một hệ thống các giá trị tinh thần tuyền thống thiên chúa giáo. Ấy thế mà vào buổi tối, chúng tôi phải đối mặt với một Hurghada đầy rẫy dân du lịch ăn mặc đồ bơi áo tắm hớ hênh chạy ra bãi biển, sự sôi động dấy lên bởi các quầy bar ầm ĩ nhạc nền. Cho dù đã biết trước điều này, nhiều thành viên đoàn vẫn không hoàn toàn tin vào mắt mình. Chúng tôi không có cách nào khác là phải ngủ qua đêm ở Hurghada bởi đây là nơi duy nhất có chuyến tàu thủy giúp chúng tôi qua eo biển Đỏ để đến bán đảo Sinai, chốt tiếp theo trong hành trình của chúng tôi. 


Sáng hôm sau, chúng tôi bắt chuyến sớm nhất vào buổi sáng và chỉ 1 tiếng rưỡi sau, chúng tôi đã đáp đến Sharm El Cheik, một địa danh khét tiếng khác của Ai Cập, cũng cùng trường phái như Hurghada. Cho dù không hề nán lại tham quan bất cứ thứ gì trong hai địa danh này nhưng sự tồn tại của Sham El Cheik và Hurghada minh chứng cho việc hình ảnh Ai Cập không chỉ có kim tự tháp, sông nil và sa mạc mà còn là eo biển Đỏ đẹp mê hồn. Chỉ có điều sự phát triển du lịch biển ở Ai Cập đã tạo ra những hậu quả trái chiều.

Thật vậy, không thể phủ nhận việc quần thể resort nghỉ dưỡng dọc biển Đỏ đã thu hút rất nhiều khách du lịch phương Tây và đem lại lợi nhuận khổng lồ cho quốc gia. Tuy nhiên, những vị du khách da trắng này cũng đem đến không ít phiền toái.  Các bạn biết đấy, Ai Cập là một quốc gia Hồi giáo với phần lớn công dân tuân thủ chặt chẽ những điều luật về phong tục tập quán và những điều cấm kỵ. Với một quốc gia mà phụ nữ không được ăn mặc hớ hênh và đàn ông không được uống rượu bia, sự hiện diện của hàng loạt quầy bar và những bãi biển chứa đầy phụ nữ mặc bikini khiêu gợi không khỏi khiến nhiều công dân Ai Câp bức xúc. Thêm một điều nữa, những người Ai Cập làm việc trong các khu nghỉ mát này đôi khi có cảm giác mình như những kẻ nô lệ phục vụ cho dám người da trắng kia. Sự ức chế và căm ghét dám khách du lịch này là điều không thể tránh khỏi. Như một điều hiển nhiên phải đến, người Hồi giáo ở Ai Cập đã từng nhiều lần thực hiện các quộc bắt cóc hoặc nổ bom cảm tử để gửi một thông điệp rất rõ đến thế giới phường Tây : “hãy cút khỏi đất nước của chúng tao, đừng mang đến đây những gã khùng say rượu và những con đĩ thõa bikini”. Từ Cairo đến Luxor, hàng năm người ta lại thỉnh thoảng đưa tin du khách Pháp bị nổ bom nát bét trong khu phố Khan El Khalili, một chuyến xe du lịch Hoa Kỳ bị gài bom trên đường đến Luxor, một phụ nữ Anh quốc bị cá mập tấn công ở Sharm El Cheik. Là những người Châu Á không trực tiếp là nạn nhân của những vụ tấn công trên, nhưng hình ảnh Hồi giáo cũng chẳng mấy tốt đẹp trong con mắt chúng ta. Nhưng nếu nhìn nhận lại một chút, không không phải không có lý khi mà những người Hồi giáo này tấn công bạo lực vào khách du lịch phương Tây. Khi đặt chân đến xứ người, chí ít thì cũng phải tôn trọng văn hóa địa phương một chút, cớ gì lại vác theo lối sống buông thả kiểu Tây đến áp đặt vào đất nước của họ. Đừng nới là Ai Cập mà ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới, hễ dân Tây có kiểu du lịch như vậy là lập tức ăn bom nổ của dân Hồi giáo địa phương. Còn nhớ năm 2001, tại đảo Bali của Indonesia (quốc gia đông dân Hồi giáo nhất thế giới), một khu nghỉ mát bị đánh bom cảm tử, chết rất nhiều dân da trắng. Nguyên nhân cũng vậy thôi, mấy đứa choai choai từ Úc, Anh đến đây cởi trần hoặc mặc bikini hớ hênh rồi say bí tỉ ban đêm. Bọn chúng còn mang theo tệ nạn gái điếm, khiến những cô gái Bali vốn dĩ thuần túy nhưng bị biến chất chạy theo đồng tiền. Bức xúc quá, việc dân đảo Bali cho vài phát bom thì cũng phải thôi. 


 Quay trở lại với Sharm El Cheik, chỉ mới đặt chân đến thành phố này, chúng tôi ngay lập tức nối chuyến để đi sâu hơn vào bán đảo Sinai, một vùng đất đóng vai trò quan trọng từ hàng thiên niên kỷ nay. Nằm ở vị trí giao thoa chiến lược giữa Bắc Phi, Tây Á và Địa Trung Hải, bán đảo Sinai ngay từ thời cổ đại đã là ngã tư của nhiều nền văn minh. Lý do chính khiến chúng tôi phải đến Sinai là vì bán đảo này có mối quan hệ mật thiết đến lịch sử phát triển thiên chúa giáo. Đối với người phương Tây hoặc bất cứ ai theo đạo Thiên chúa giáo hay đạo do thái, ai ai cũng biết đến cái tên Sinai bởi nó liên quan đến một truyền thuyết bất hủ trong tôn giáo của họ, truyền thuyết về Mose. Tất cả bắt đầu từ giai đoạn lịch sử 1300 trước CN tại xứ sở Ai Cập của những vị Pharaon. Theo truyền thuyết kể lại trong kinh thánh của người do thái và thiên chúa giáo, dân tộc do thái (tổ tiên của những người Israel bây giờ) sống lưu vong trên đất Ai Cập dưới sự bảo hộ của Pharaoh. Với sự siêng năng và thông minh, họ dần dần nắm giữ nhiều vị trí chủ trốt trong xã hội Ai Cập. Điều này khiến cho Pharaon lo lắng một ngày nào đó dân tộc do thái sẽ nổi dậy lật đổ ngai vàng. Vì thế, Pharaon hạ lệnh triệt hạ tất cả những đứa trẻ do thái để không còn hậu duệ nào có thể gây nguy hiểm nữa. Tất cả trẻ sơ sinh đều bị dìm chết đuối trên sông Nil, duy nhất chỉ có một đứa trẻ còn sống sót, đó là Mose. 


Chính đứa trẻ này sau đó lớn lên và trở thành vị lãnh tụ vĩ đại dìu dắt dân tộc do thái thoát khỏi sự kìm cặp của người Ai Cập. Ông dẫn tất cả dân tộc lang thang trong sa mạc và mon men đến ven bờ biển Đỏ. Nhưng khổ nỗi khi đặt chân đến đây thì không còn đường nào nữa trong khi phía sau lưng quân đội Ai Cập liên tục bám riết. Mose đã làm phép khiến cho biển Đỏ bị xẻ đôi, dọn đường cho người do thái băng qua  để đến được bán đảo Sinai này nay. Tiếp theo đó, đỉnh núi Sinai, Mose nhận được 10 điều răn từ thượng đế và kể từ đó, 10 điều răn này trở thành hệ thống các giá trị nhân sinh quan trong kinh thánh của cả người do thái và thiên chúa giáo. 


 Truyền thuyết về Mose nổi tiếng đến nỗi đã trở thành nguồn cảm hứng vẽ tranh trong nghệ thuật Châu Âu những thế kỷ 17-18 và rồi sau này được chuyển thể thành phim ảnh với bộ phim 10 Commandment của Hollywood.  

Chuyến đi vào sâu trong lòng bán đảo Sinai của chúng tôi chứa nhiều cảm xúc và có lẽ nhiều hơn vài phần so với công đoạn vào thăm các tu viện bởi những lý do nêu trên. Cảm giác được đặt chân đến một vùng đất huyền thoại khiến nhiều thành viên trong đoàn hồ hởi nhưng tôi thì không hoàn toàn có được cảm giác đó bởi đơn giản tôi không thành tâm. Càng đi sâu vào bên trong, chúng tôi càng lấn sâu vào một vùng đất sa mạc và xa rời thế giới của nền văn minh nhân loại. Băng qua những nẻo đường đầy cát bụi, chúng tôi có cảm giác như đang băng qua một đại dương, chỉ có điều thay vì nước biển, đó là sa mạc. Lác đác đây đó là một vài nhóm người dân du mục đi lại với những chú lạc đà, hệt như việc thỉnh thoảng mới gặp những con thuyền chài trên đại dương bát ngát. Dưới cái nóng đôi khi lên đến 50 độ, rất nhiều thành viên ngồi im lặng trong xe ngắm nhìn biển cát bất động bên ngoài. Tôi có thể hiểu được tâm trạng của họ, những người sùng đạo đang mường tượng về một viễn cảnh lang thang trong sa mạc như thể chính họ đang là những hậu duệ của Mose và đang vội vã trốn chạy khỏi sự truy đuổi của quân đội Ai Cập.

Suy cho cùng, truyền thuyết thì vẫn là truyền thuyết. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu công phu của các chuyên gia sử học nhưng chưa có tài liệu nào thống nhất về vị trí địa lý chính xác của con đường Mose sử dụng. Thậm chí trên những phiến đá Ai Cập cổ đại, không có bất cứ tài liệu nào chứng minh sự tồn tại của dân tộc do thái trên đất Ai Cập. Mặc dù có những ý kiến trái chiều về hành trình lang thang của dân tộc Israel, những giả thuyết lô-gích nhất cho rằng chắc chắn sau khi vượt qua biển Đỏ, Mose đã đặt chân đến một khu vực nằm không xa Sharm El Cheik ngày nay và rồi từ đó đi sâu vào bên trong bán đảo Sinai. Có vẻ như hướng đi của nhóm chúng tôi khá tương đồng với hướng đi mà Mose xưa kia đã sử dụng. Sau khi rời xa Sharm El Cheik khoảng gần 2 tiếng, chúng tôi áp sát ốc đảo Wady Feiran, được ví như “viên ngọc của Sinai” bởi đây là ốc đảo lớn nhất về kích cỡ trên bán đảo Sinai (dài khoảng 5km) . 


Theo như truyền thuyết kể lại, Mose và dân tộc Israel đã từng đi qua đây. Tại xứ sở toàn sa mạc này, việc tìm được nguồn nước là điều gần như không thể trong khi đã có quá nhiều người bị chết khát dọc đường. Mose đã phù phép và làm xuất hiện một vũng nước lớn, sau này trở thành ốc đảo Wadi Feiran màu mỡ với rất nhiều cây cọ xung quanh. Với một câu truyện ly kỳ như vậy, ngay từ những thế kỷ 4-5 sau công nguyên, đã có rất nhiều phái đoàn hành hương quyết định đi quá giang qua đây với mục đích sống lại những giây phút thần thánh được ghi khắc trong kinh thánh của họ. Chính vì lý do này, dọc trục đường Sharm El Cheik-Wadi Feiran – Mont Sinai nằm rải rác các công trình kiến trúc cổ thiên chúa giáo, chủ yếu là tu viện nhỏ hoặc nhà thờ được xây lên bởi các phái đoàn hành hương. Họ muốn sống và tu hành gần những nơi được cho là có dấu vết của Mose, với hi vọng sẽ tu thành chính quả. 


Ngày nay, Wadi Feiran không còn giữ vị trí quan trọng trên phương diện tôn giáo nữa nhưng vẫn đóng vai trò cung cấp nguồn nước canh tác và sinh hoạt cho khá nhiều nhóm người du mục từ phương khác đến. Với khoảng 30.000 cây cọ, nguồn nước ở đây đủ để các bộ tộc du mục quá giang vài tuần, trước khi tiếp tục hành trình đi sinh sống ở những nơi khác. Theo thông số của chính phủ Ai Cập, trên toàn bộ bán đảo Sinai có khoảng 70.000 người du mục Bedouine với các  nguồn gốc xuất xứ khác nhau. Trong số này có khoảng 7000 người sống gần như cố định trong khu vực giữa Wadi Feiran và Mont Sinai. Những người còn đang sinh sống ở ốc đảo Wadi Feiran thuộc về dòng bộ tộc Jebeliya, một bộ tộc có mối quan hệ truyền thống lịch sử lâu đời với cộng đồng thiên chúa giáo trên bán đảo Sinai và đặc biệt là với tu viện Saint Catherine (cách Wadi Feran chừng 40km). Tôi sẽ quay lại với tu viện này trong những trang dưới đây. 

Ngay từ những thế kỷ 5-6, mối quan hệ mật thiết giữa tu viện Saint Catherine và cộng đồng người Jebeliya đã được thiết lập trên cơ sở hai bên cùng có lợi. Cộng đồng tu sĩ thực hiện canh tác trồng trọt và cung cấp lương thực hoặc dịch vụ nghỉ ngơi quá giang cho các bộ tộc du mục. Ngược lại, người Jebeliya, với bẩm sinh năng khiếu giao chiến đáp lại bằng sự bảo vệ quân sự của họ. Thực ra, người Jebeliya có một điểm khác biệt so với các bộ tộc du mục khác trong du mục vì họ không có nguồn gốc từ bán đảo Sinai. Những người Jebeliya ngày nay là hậu duệ của tổ tiên vốn dĩ có nguồn gốc từ Đông Âu hoặc ven bờ biển Đen bị lưu đầy đến đây vào những thế kỷ 5-6. Tại sao lại có làn sóng di cư này? Sau khi đế chế La Mã sụp đổ vào nửa cuối thế kỷ thứ 5 sau công nguyên, đế chế Byzantine lên thay thế trở thành quyền lực lớn nhất trong khu vực Trung Đông và thiên chúa giáo trở thành tôn giáo chính thức của đế chế này. Thời điểm ấy, tu viện Saint Catherine và Ai Cập là lãnh thổ của để chế Byzantine. 


Để bảo vệ tu viện, đế vương Byzantine chiêu tập các binh sĩ nằm rải rác ở Đông Âu và ven biển Đen rồi gửi tất cả đến sống xung quanh tu viện. Ngoài nhiệm vụ canh gác và bảo vệ, những thế hệ binh sĩ đầu tiên này còn phải tham gia các hoạt động hằng ngày như làm vườn, làm bánh hoặc nghề mộc.  Dần dần, khi mà bản thân đế chế Byzantine sụp đổ, một số bộ phận người lính này không còn duy trì lối sống canh tác nữa mà lại tiếp nhận lối sống du mục, để thích nghi tốt hơn với sự khắc nghiệt của sa mạc. 


 Và thế là bộ tộc du mục Jebeliya được hình thành. Những thế hệ binh sĩ đầu tiên lần lượt cưới xin và chung sống với những người phụ nữ thuộc các dòng bộ tộc khác, tạo ra thế hệ con lai nửa Âu nửa ảrập. Sau đó, với làn sóng phổ cập đạo hồi vào những thế kỷ 7-9, bản thân những người con lai thuộc dòng Jebeliya từ bỏ đạo thiên chúa giáo và tiếp thu phong tục tập quán đạo hồi. Kết quả là những người Jebeliya ngày này có khoảng 90% mang tính “ảrập” đạo hồi. Chỉ còn khoảng 10% là mang tính Châu Âu, thể hiện qua dáng vẻ khuôn mặt có cái gì đó nhang nhác “Nga ngố”. 


Một điều thể hiện rất rõ sự khác biệt giữa người Jebeliya và các bộ tộc du mục khác ngày nay là khả năng canh tác vườn tược của họ. Lạc vào ốc đảo Wadi Feiran, không khó để phát hiện ra những thửa đất được biến thành các khu vườn trông rau và cây quả rất xanh tươi. Với sự biến đổi khí hậu, lượng nước mưa trên bán đảo Sinai ngày càng ít đi và điều này ít nhiều ảnh hưởng đến sự tồn tại lâu dài của bán đảo Wadi Feiran. Không ít thửa vườn canh tác đã bị bỏ hoang. Nhiều hộ dân ở đây từ bỏ lối sống nông nghiệp canh tác hoặc du mục truyền thống để đi theo lối sống hiện đại hơn, dựa trên việc đi làm thuê nơi khác hoặc đơn thuần là sản xuất hàng hóa phục vụ cho du lịch. Điều này làm tôi liên tưởng đến những dân tộc thiểu số ở Việt Nam, đặc biệt là các dân tộc Hmong, Dao, Tày, Nùng ở các khu vực quanh Sapa, họ cũng sẽ chịu chung số phận như vậy, từ bỏ lối sống trồng trọt truyền thống để chạy theo du lịch. Tôi sẽ quay lại chủ đề này sâu hơn trong phần ký sự liên quan đến hành trình sang Ai Cập lần thứ hai. 

 Quay trở lại với Wadi Feiran, khi ô tô của chúng tôi đáp đên nơi thì cũng trùng với giờ ăn trưa. Chúng tôi được đón tiếp bởi tu viện 7 sisters Monastery. Sau đó, chúng thôi thăm thú loanh quanh, giao lưu với một số hộ gia đình Jebeliya trước khi tiếp tục tiến thẳng về tu viện Saint Catherine, điểm dừng chân cuối cùng của ngày. Tu viện này là điểm sáng lớn nhất trong hành trình đến bán đảo Sinai. Cái tên Saint Catherine được đặt ra vì truyền thuyết kể lại rằng có một thiếu nữ tên Catherine sống vào thế kỷ thứ 3 sau công nguyên đã có công lớn trong việc truyền bá đạo thiên chúa giáo ở Trung Đông. Như thường lệ, vì Ai Cập còn đang nằm dưới quyền thống trị của đế chế La Mã, và vì người La Mã rất ghét việc một tôn giáo khác nổi lên cạnh tranh với truyền thống tôn thờ thần Zớt của họ, Catherine bị đem ra xử trảm. Sau khi chết, một thiện thần từ trên trời bay xuống và đem xác đến vị trí mà tu viện Saint Catherine hiện tại được xây. Cũng như các tu viện Saint Antony hay ở Wadi El Natrun, tu viện Saint Catherine sinh ra trong cùng một giai đoạn nhưng có phần khác so với các công trình khác. Điểm đặc biệt ở đây là Saint Catherine chưa bao giờ là nạn nhân của các cuộc tấn công từ bộ tộc du mục hay từ các thế lực khác. Vì thế, những gì mà chúng tôi đang nhìn trước mặt là phiên bản nguyên gốc của những thế kỷ đầu sau công nguyên.  Và ngay cả khi làn sóng chinh phạt quân sự của người Ả rập nổi lên trong những thế kỷ sau đó, tu viện Saint Catherine chưa bao giờ bị tấn công. Nguyên nhân vì sao? Saint Catherine may mắn hơn những tu viện khác vì được chính thánh Mohamed (người sáng lập ra đạo hồi) ký xác nhận đồng ý tha bổng cho tu viện và cấm bất cứ hậu duệ hồi giáo nào được phép tân tấn công tu viện này. Thậm chí ngay cả những thế kỷ 16-17, khi quân đội Ottoman đến từ Thổ Nhĩ Kỹ xâm chiếm toàn bộ Bắc Phi, họ cũng tha bổng luôn. 

  
Chúng tôi chưa vội thăm tu viện ngay mà để dành đến ngày hôm sau. Chúng tôi làm thủ tục nhận phòng tại một khách sạn chỉ nằm cách tu viện tầm 5mn đi xe. Ngày nay, người ta nói đến “thị trấn” Saint Catherine hơn là một tu viện bởi sự hiện diện của một quần thể cơ sở hạ tầng xung quanh nhằm mục đích phục vụ khách du lịch. Trong phần trước, tôi có đề cập đến concept “Disneyland” hóa các di tích tôn giáo. Saint Catherine là một ví dụ khác minh chứng cho ý tưởng này. Khác với chuyến viếng thăm tu viện Saint Antony, Saint Catherine nổi danh hơn nhiều nên lượng khách du lịch cũng đông hơn. Theo như cậu ở lễ tân nói, vào dịp cao điểm thì có khoảng hơn 1000 khách ngủ đêm tại đây, phần lớn trong số họ đến đây theo dạng tour ngắn ngày từ Sharm El Cheik. Những đoàn khách du lịch này thường được quảng cáo tour đến Sinai như kiểu “hành trình đến miền đất hứa”, một cái tên rất kêu và có liên quan trực tiếp đến lời truyền trong kinh thánh của thiên chúa giáo. Bên trong tu viện Saint Catherine vẫn còn khoảng 25 tu sĩ sinh sống nên mọi hoạt động tham quan du lịch phải tuân theo quy tắc của họ, có nghĩa là tu viện chỉ mở cửa vào buổi sáng, đến trưa là đóng cửa hoàn toàn. Chính vì lẽ đó mà chúng tôi phải xây dựng một chương trình giống như bất cứ phái đoàn du lịch nào đến đây : đến vào buổi chiều, làm thủ tục nhận phòng rồi đi ngủ sớm, rạng sáng hôm sau trèo lên đỉnh núi Mont Sinai ngắm mặt trời mọc rồi xuống núi ăn sáng và thăm tu viện Saint Catherine trước 12h trưa.

  
Ngày tiếp theo là một ngày thật sự vất vả với chúng tôi nhưng có lẽ cũng là ngày đỉnh điểm nhất của toàn bộ chuyến hành hương đến đất Ai Cập vì đây là ngày chúng tôi leo lên đỉnh núi Mont Sinai, nơi được cho là Mose đã gặp được thượng đế và đón nhận phiến đá ghi lại 10 lời răn của thượng đế. Ngay từ 3h sáng, chúng tôi thức dậy và bắt đầu hành trình leo lên đỉnh núi Mont Sinai ở độ cao 2285m. Đường lên đỉnh núi không quá dốc và đoạn đường cũng không quá dài (khoảng 7km) nhưng với độ tuổi trung bình khá cao của nhóm (55 tuổi), chúng tôi phải thuê dịch vụ lạc đà. Không gian lúc ấy thật là yên tĩnh. Dưới bầu trời đen tối, mọi thứ đều còn đang trong giấc ngủ, chỉ có tiếng vó lạc đà và những tiếng hội thoại từ những khách du lịch như chúng tôi. 


Dọc đường, thỉnh thoảng chúng tôi thấy những đốm sáng lẻ loi trong màn đêm tối mịt. Đó là những túp lều nhỏ, nơi người dân địa phương phục vụ nước nôi cho các phái đoàn du lịch đi qua. Không khí ấy làm tôi nhớ lại giây phút đi chùa Hương vào rạng sáng, y chang như vậy. Vẫn những mặt hàng khá quen thuộc : mỳ ăn liền, cà phê, nước uống…

Lên được đến sát đỉnh, chúng tôi buộc phải xuống lạc đà và tiếp tục đi bộ một lúc. Những cậu bé dẫn lạc đà bắt đầu giở trò xin xỏ tiền tip với một thái độ khá khó chịu. Tình huống này thực ra đã được cảnh báo từ trước. Tôi thì không quá ngạc nhiên với kiểu thái độ đó vì nó xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Đây là một thực trạng đáng xấu hổ và đáng buồn với ngành du lịch nước nhà. Cứ nghĩ đến cảnh các cô gái Hmong đen ở Sapa cứ chạy theo khách du lịch đến tận 7km chỉ để bán đồ lưu niệm hay những bà chèo thuyền ở Tam Cốc khủng bố tinh thần du khách Tây để bán mấy cái vòng lắc thì tôi lại ngán ngẩm tự nhủ : “văn hóa du lịch kiểu này thì chẳng có gì ngạc nhiên khi hơn 90% du khách đến Việt Nam thề không bao giờ quay trở lại đất  nước hình chữ S”. Cũng chẳng có gì ngạc nhiên khi lượng du khách đến Việt Nam sụt giảm trong năm 2013 trong khi đó bên các nước bạn như Lào, Thái Lan và Campuchia thì tăng vùn vụt. Với một bộ văn hóa và du lịch toàn bọn đầu đất điều hành, đừng bao giờ trông mong du lịch Việt Nam vươn lên một tầm vóc mới, nông dân thì vẫn chỉ là nông dân mà thôi. 


Khoảng tầm 5h sáng, chúng tôi lên được đến đỉnh núi, vừa đủ thời gian để chứng kiến những tia nắng đầu tiên le lói phía xa rồi rọi lên những đỉnh núi nhọn xung quanh. Đó là một trong những khoảnh khắc đẹp nhất trong hành trình sang Ai Cập của tôi. Cũng phải nói thêm rằng tôi là một người may mắn có cơ hội chiêm ngưỡng mặt trời mọc/lặn ở nhiều nơi trên thế giới mà tất cả những khoảnh khắc đó đều được ghi khắc rất rõ trong tâm trí tôi, từ đảo Santorini (Hy Lạp)  đến thung lũng Cappadocia (Thổ Nhĩ Kỳ), từ Aswan (Ai Cập) đến Angkor Wat (Campuchia). Đó đều là những giây phút huyền ảo, phần thưởng xứng đáng cho những ai chịu hi sinh nhiều thứ để có được nó. 

Sau chừng nửa tiếng ngất ngây con gà tây, chúng tôi bắt đầu hành trình xuống núi nhưng đi qua con đường khác ngắn hơn nhưng cũng dốc hơn. Khoảng hơn 7h sáng, chúng tôi đã có mặt tại chân núi và quay trở lại khách sạn rửa ráy  trước khi tiếp tục chuyến viếng thăm tu viện Saint Catherine.  


Tu viện Catherine còn một điểm khác biệt nữa khiến tôi rất ngạc nhiên. Trên danh nghĩa, đây là một tu viện của cộng đồng thiên chúa giáo. Nhưng trên thực tế, tôi thấy có cả tín đồ hồi giáo và do thái đến đây viếng thăm. Điều đó cho thấy tu viện Saint Catherine là nơi giao lưu của cả 3 tôn giáo, một ví dụ rõ nét cho chính bán đảo Sinai vậy. 


Ngay cạnh tòa tháp chuông thiên chúa giáo, có thể dễ dàng nhận ra sự hiện diện của một tháp chuông hồi giáo màu trắng muốt. Đây là minh chứng cho dấu vết lịch sử của hồi giáo trên bán đảo Sinai và đặc thù của tu viện Saint Catherine. Mặc dù bị bao vây bởi cả một thế giới hồi giáo, đặc biệt là dưới các triều đại Fatimid và Mamelouk (giai đoạn thế kỷ 10-14), tu viện được trao đặc quyền tự do tôn giáo, chỉ có điều bên trong khuôn viên cần có một nhà thờ hồi giáo như để chứng tỏ sự thống trị của đạo Hồi trong khu vực. 


Bên trong khuôn viên là một lô các công trình kiến trúc nhỏ với những cái tên khác nhau mà tôi không thể nhớ hết được. Nếu như bạn hỏi tôi ấn tượng lớn nhất còn giữ được, có lẽ câu trả lời là sảnh thư viện. Người ta nói rằng đây là thư viện lâu đời nhất trong thế giới thiên chúa giáo và hiện tại đang sở hữu số lượng đầu sách lớn thứ hai thế giới, chỉ đứng sau thư viện của tòa thánh Vatican.

Mặc dù không phủ nhận sự độc đáo hơn hẳn của tu viện Saint Catherine so với tất cả các tu viện khác mà chúng tôi thăm trong hành trình, chuyến tham quan bên trong tu viện này không có những hiệu ứng ngạc nhiên như những gì mà chúng tôi đã trải qua trước đó nữa, đơn giản vì nó ít nhiều có cùng một trường phái, vẫn là một công trình lẻ loi trong một môi trường thiên nhiên khắt khe, vẫn là những vị tu sĩ đội mũ len và phủ kín màu đen, vẫn những quầy bán đồ lưu niệm…

Sau một buổi sáng vận động chân tay mệt mỏi, chúng tôi chỉ phải kết thúc buổi chiều bằng chuyến viếng thăm nhẹ nhàng đến một trung tâm giúp đỡ cộng đồng bộ tộc Jebeliya mang tên Fansina. Đây là một số tổ chức phi chính phủ quốc tế và địa phương đầu tư phát triển một dự án kinh tế để giúp đỡ phụ nữ Jebeliya. 


Cụ thể, những người phụ nữ này nếu như xưa kia chỉ có mỗi nhiệm vụ nội trợ, nuôi dạy con cái và chăn nuôi gia súc thì ngày nay họ còn có cơ hội phát triển năng khiếu thêu thùa của mình. Đã từ lâu, phụ nữ Jebeliya đã biết tận dụng những nguyên liệu có sẵn trong sa mạc như cây cối đặc thù của vùng để chiết xuất ra sợi vải rồi từ đó tạo ra các sản phẩm thổ cẩm phục vụ cho các nhu cầu trang trí nội thất hay gia đình. Ngày nay, họ có điều kiện sản xuất cung cấp cho tu viện Catherine như là đồ lưu niệm. Lợi nhuận thu về được chia đều một cánh công bằng, giúp họ có thêm thu nhập cho gia đình. 


Chúng tôi thăm trung tâm này với mục đích tìm hiểu cuộc sống ngày thường của những phụ nữ Jebeliya nhưng cũng là để mua một số mặt hàng lưu niệm như túi xách hay vỏ gối để ủng hộ trung tâm. Được biết một số tổ chức phi chính phủ của Anh và Đức đã hợp tác với Fansina để xuất khẩu một số lượng nhỏ sang hai quốc gia này. Dẫu biết rằng đây là một phương thức đáng khích lệ nhưng tôi có nhiều hoài nghi về sự thành công của nó khi mà biết bao nhiêu sản phẩm giá rẻ đến từ Trung Quốc đang chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Sau tu viện Saint Catherine, có thể nói chúng tôi đã hoàn thành tất cả những gì được cho la tinh túy nhất về khía cạnh thiên chúa giáo Ai Cập. Chúng tôi bắt đầu tiến ra rìa bán đảo Sinai và một lần nữa tiến về hướng biển Đỏ nhưng thay vì quay lại trục đường cũ quay lại Sharm El Cheik, chúng tôi đổi hướng đi về phía Dahab, một thị trấn khác nằm ven biển. Tuy khung cảnh nói chung của ngày hôm nay vẫn là sa mạc và núi nhưng có thể nhận ra một số điểm khác biệt, nhất là khi chúng tôi đi qua khu vực Ein Khudra, nơi chúng tôi nghỉ dọc đường. Chính xác hơn, đây là một ốc đảo, nơi  có bộ tộc du mục Muszeina sinh sống. 


Nhỏ hơn so với ốc đảo Wadi El Feiran nhưng đây được cho là ốc đảo đẹp nhất bán đảo Sinai. Ốc đảo này có phần khác so với ốc đảo Wadi El Feiran bởi tại đây cây cối mọc lên một cách tự nhiên dựa vào các nguồn nước ngầm chứ không phát triển theo kiểu canh tác nhân tạo như Wadi El Feiran. 

 
Chúng tôi giao lưu với một hộ gia đình bộ tộc Muszeina và được họ mời uống trà. Có thể nhận thấy một điểm thú vị là phong tục mời trà là một thói quen khá phổ biến của hầu như tất cả các bộ tộc du mục mà tôi được biết đến trong các khu vực sa mạc trải dài ở Bắc Phi và Trung Đông. Dù bạn đến Marốc, Algeria, Tunisia, Ai Cập, Lybia, Syria hay Thổ Nhĩ Kỳ thì tiếp trà luôn là một điều không thể thiếu, thể hiện sự hiếu khách của họ. Chỉ có điều loại trà được phục vụ thì có thể khác nhau. Ở Marốc thì người ta dùng trà trộn với lá bạc hà. Còn ở bán đảo Sinai này, người ta sử dụng trà đen và trộn với rất nhiều đường nên cốc trà của bạn sẽ cực kỳ ngọt. Người ta giải thích rằng ngọt như vậy sẽ rất tốt cho cơ thể bới nó giúp hạn chế mức độ mất nước do toát mồ hôi dưới cái nóng khủng khiếp của sa mạc. 


Sau một lúc “trà đạo” theo kiểu du mục, chúng tôi tiếp tục hành trình khám phá White Canyon,điểm nhấn của ngày hôm nay. Nó giúp tôi mở rộng thêm hiểu biết về hiện tượng địa chất này. Trước đây, tôi chỉ nghe nói đến các đại vực canyon ở nước Mỹ (chắc hẳn các bạn còn nhớ đến những cảnh quay trong các bộ phim cao bồi miền tây của Hollywood). Nhưng trong suốt giai đoạn 8 năm bên Châu Âu, tôi mới khám phá ra rằng canyon không chỉ là đặc sản của Mỹ mà nó cũng rất đa dạng và tồn tại ở nhiều nơi khác trên thế giới.


 White Canyon là kiểu đại vực đầu tiên tôi được thăm quan, và sau này tôi còn có dịp khám phá thêm một dạng đại vực ở thung lũng Ihlara Valley tại Thổ Nhĩ Kỳ. Đối với tôi, có lẽ White Canyon là một thông điệp khiến nhiều người cần phải thay đổi định nghĩa về vẻ đẹp thiên nhiên. Người Việt chúng ta có vẻ như có chiều hướng thích những vẻ đẹp “xanh mát” với những khung cảnh núi non trùng điệp, có cây cối hoa trái. Thế nên tôi nhận thấy rằng hiếm khi nào phong cảnh sa mạc thu hút được sự quan tâm đông đảo. Có vẻ như nói đến sa mạc là người ta lập tức nghĩ đến những đụn cát khổng lồ hoặc đại loại như một vùng “chó ăn đá gà ăn sỏi”. Nằm rõ ràng trong một đại dương sa mạc tại bán đảo Sinai, White Canyon chứng minh cho chúng ta thấy rằng đâu phải lúc nào sa mạc cũng là những đụn cát. Vẫn có đây đó những dãy núi trơ trọi không cây cối, vẫn lác đác những ốc đảo xanh rờn, và vẫn tồn tại đây đó những viên ngọc sáng như White Canyon, một tuyệt phẩm điêu khắc của thiên nhiên.

Nguồn gốc sơ sinh của canyon này vốn dĩ là đáy một con sông chảy qua, cách đây hàng trăm triệu năm. Dần dần nước đại dương rút xuống và khiến cho con sông này cạn dần. Tất cả những gì còn lại là những bề mặt thành sông khô cằn, cộng thêm sự tác động của gió làm cho màu sắc của bề mặt thành màu trắng. 


Để đến được khu vực này, không có bất cứ con đường nào dải nhựa băng qua vì thế chúng tôi buộc phải sử dụng ôtô 4x4 chuyên dụng. Nhân tiện đây, tôi lại nhớ đến những chiếc xe 4x4 Land Rovers hiên ngang đi trên đường phố Hà Nội. Mấy người bạn Tây của tôi có hỏi tại sao ngay giữa lòng thủ đô đường bằng phẳng như vậy mà lại phải cần đến Land Rover vốn chỉ dùng cho những con đường địa hình khó khăn. Tôi buộc phải trả lời một cách hài hước rằng người Việt có một chí tưởng tượng phong phú nên nhiều người sử dụng xe Land Rover để tận hưởng cảm giác như thể đang đi trên sa mạc. Chẳng lẽ lại nói trắng ra là mấy ông sĩ diện khoe mẽ sắm mấy con 4x4 này để thể hiện phong cách sành điệu



Chặng đường trekking băng qua những hẻm vực hun hút của White Canyon thực sự để lại cho chúng tôi một ấn tượng khó phai mờ. Có những đoạn đường rất hẹp, chỉ khoảng một mét và khi bạn ngẩng đầu lên nhìn thẳng lên trời thì bạn có những cảm giác khó tả. Cảm giác nhỏ bé trước thiên nhiên hùng vĩ. Đối với một số người, nó giống như một chuyến mạo hiểm theo kiểu Indiana Jones. Còn đối với tôi, tôi lại có cảm giác như nhóm của chúng tôi đang bị “mai phục” và sa lầy tại hẻm núi nay, cứ như là trong phim Tam Quốc Diễn Nghĩa. Thoang thoảng đâu đó những tiếng rục rịch (chắc là mấy chú thằn lằn tắc kè thôi) như thể quân của Tào Tháo đang chuẩn bị mai phục bắn tên ném đá xuống đầu chúng tôi. 
 

 Sau White Canyon, chúng tôi quay trở lại Ein Khudra ăn trưa, được chuẩn bị khá thịnh soạn bới người dân du mục địa phương. Thoạt nhìn, bạn sẽ tự hỏi người ta lấy đâu ra nguyên liệu để nấu ăn trong một khu vực khó canh tác như thế này. Thực ra, một số nguyên liệu thực phẩm được vận chuyển từ nơi khác đến, do đó không quá ngạc nhiên khi chí phí bữa ăn trưa ở đây đắt hơn một chút so với các bữa ăn ở thủ đô Cairo. Sau bữa trưa, chúng tôi nhanh chóng tiến về thị trấn Dahab, chặng cuối cùng của chuyến đi. Tôi sẽ không nói nhiều về thị trấn nhỏ này vì tôi còn có dịp quá giang qua nó trong chuyến khám phá Ai Cập lần thứ hai. Sau một đêm nghỉ khách sạn ở đây, chúng tôi quay trở lại Sharm El Cheik bắt chuyến bay nội địa quay trở lại Cairo rồi từ đó nối chuyến quay trở lại Pháp.

Chuyến đi sang Ai Cập đã góp phần thay đổi rất nhiều mường tượng của tôi về Trung Đông, không chỉ về phong cảnh thiên nhiên mà còn về các bản sắc văn hóa. Ai Cập phức tạp và đa dạng hơn tôi tưởng tượng. Và tôi nghĩ nhiều quốc gia khác chắc cũng như vậy. Tạm biệt Ai Cập và những cộng đồng thiên chúa giáo đã nhiệt tình đón tiếp chúng tôi.

Sunday, May 19, 2013

Khám phá Ai Cập của thiên chúa giáo (Phần 3)



Kể từ ngày thứ 3, chúng tôi rời thủ đô Cairo và bắt đầu hành trình lang thang trong sa mạc để tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của thiên chúa giáo tại Trung Đông. Điểm đến đầu tiên của chúng tôi là Wadi El Natrun, một nơi giàu truyền thống lịch sử phát triển các dòng thầy tu thiên chúa giáo. Chuyến viếng thăm cộng đồng tu sĩ ở đây giúp chúng tôi có được cái nhìn rõ nét hơn về thế nào là tu hành theo kiểu thiên chúa giáo. Kết nối với những kiến thức đã tích lũy được trên băng ghế đại học, tôi nghĩ bản thân đã có được cái nhìn khá hòm hòm về tầm ảnh hưởng của thiên chúa giáo trong đời sống của những quốc gia xung quanh Địa Trung Hải và Châu Âu. Nhưng phải nói rằng những gì mà tôi trình bày dưới đây chỉ là một hạt cát so với những quyến sách dày cộp giải thích về thiên chúa giáo. 

Như các bạn đã biết, khi mà một tôn giáo được công nhận, chắc chắn tôn giáo đó phải có sự tồn tại của một quyển kinh thánh cũng như một bộ máy tổ chức chặt chẽ để có thể truyền đạo một cách hiệu quả. Đạo Hồi thì có kinh coran, đạo phật thì có kinh sutra, còn thiên chúa giáo thì có kinh thánh mà phương tây gọi là bible. Trong cuốn kinh này có rất nhiều phần kể về đời sống của chúa Jesus cũng như những lời răn của chúa. Tuy nhiên, những lời răn đó không phải lúc nào cũng là câu trả lời toàn diện cho cuộc sống của những người sùng đạo, đặc biệt là ở nhiều khía cạnh liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ như cưới xin, làm đám ma…Vì thế, cần phải “chế” ra những đạo luật mới để bổ sung vào chỗ thiếu. Nhiệm vụ đó một phần được hoàn thành bởi các tu sĩ thiên chúa giáo mà nguồn gốc thủy tổ sinh ra đầu tiên chính là trên đất Ai Cập.

Quay trở lại với những thế kỷ 4-5 sau công nguyên. Như đã giải thích trong phần đầu tiên, cộng đồng thiên chúa giáo dưới thời đế chế La Mã bị truy nã và tàn sát không thương tiếc. Phải chờ đến thời điểm đế chế La Mã đang suy yếu (bắt đầu từ thế kỷ thứ 4 sau công nguyên), cộng đồng thiên chúa giáo mới được công nhận quyền tự do tín ngưỡng và ít nhiều thoát khỏi cảnh phải sống chui lủi dưới lòng đất. Trong bối cảnh ấy, một số tu sĩ muốn tự tìm con đường tu hành riêng của mình, phỏng theo cách tu hành của chúa Jesus (tức là sống rất khắc khổ). Họ chủ động sống ẩn dật tại những nơi tận cùng của thế giới. Vậy ở môi trường nào thì được coi là sống khổ hạnh? Câu trả lời chính là tại sa mạc hoang vu với cái nóng hơn 40 độ. Sống khắc khổ, sống không tình dục, sống khiêm nhường, đó là triết lý sống của những tu sĩ này. Có thế mới biệt đời mình thật là hạnh phúc vì không phải kiêng mấy món trên. 

 Thế hệ tu sĩ đầu tiên cũng là những người thành lập ra tu viện và cộng đồng tu sĩ đầu tiên trong lịch sử thiên chúa giáo và không quá ngạc nhiên khi nhận thấy rằng tất cả các tu viện này đều được tìm thấy ở sa mạc khô cằn. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 7, mô hình phát triển kiểu tu viện này được du nhập vào Châu Âu, tạo tiền đề cho sự sinh ra của các dòng tu khác ở Pháp, Ý và Tây Ban Nha. Qua nhiều thế kỷ, với những biến động của lịch sử, không ít công trình kiến trúc cũng như cộng đồng thiên chúa giáo ở Ai Cập bị phá hủy, đặc biệt là kể từ khi Hồi giáo chính thức trở thành quốc giáo từ thế kỷ thứ 10. 

 Ngày nay, chỉ còn sót lại một vài cộng đồng tu sĩ, xoay quanh những tu viện nằm rải rác trong sa mạc. Chuyến đi của chúng tôi không đảm bảo thăm hết tất cả các tu viện này, một phần vì việc chúng nằm quá rải rác và không có hệ thống đường xá thuận lợi. Mặt khác, giữa tất cả các cộng đồng tu sĩ này ít nhiều có điểm chung nên chỉ cần thăm một hai nơi thí điểm. Trong bối cảnh này, Wadi El Natrun là một sự lựa chọn đúng vì nó không nằm quá xa so với thủ đô Cairo (khoảng 2h ôtô). 

 Nằm gần như trong một ốc đảo, Wadi El Natrun là một ví dụ điển hình cho cuộc sống của những người tu hành trong quá khứ. Sống thân cô thế cô trong một khu vực khỉ ho cò gáy này là biết bao nguy hiểm, từ bão cát cho đến những cuộc tấn công cướp bóc của dân du mục. Đó là lý do vì sao ngoài việc tu hành, những tu sĩ nơi đây đôi khi phải kiêm luôn vai trò là những chiến sĩ dũng cảm. Với nhu cầu phòng thủ để bảo vệ chính cộng đồng của mình, các tu sĩ tham gia vào việc xây dựng hệ thống thành lũy bao vây quanh các tu viện. Ở đây có cả thảy 4 tu viện và trong quá khứ, chúng đã phải chịu 6 lần tấn công từ các thế lực bên ngoài. Từ tấn công vũ trang, nhiều khi các cộng đồng nơi đây còn phải hứng chịu hiểm nguy từ dịch bệnh nữa. Vào thế kỷ 14, gần như cả Châu Âu và Trung Đông phải chịu làn sóng bênh hủi lớn chưa từng có trong lịch sử loài người. Nếu tôi nhớ không nhầm, 1/3 dân số của cả Châu Âu chết vì bệnh này. Dịch bệnh len lỏi đến từng khu phố, sang tận Châu Phi và len đến những vùng tận cùng của thế giới, trong đó có vùng sa mạc khô cằn của Wadi El Natrun, nơi cộng đồng tu sĩ tử thủ đằng sau hệ thống thành lũy xây bằng đất nện. 


Nói đến đây, tôi lại nhớ đến một số bộ phim Hollywood như “Season of the witch” nói về bối cảnh dòng tu sĩ thời kỳ trung cổ. Tất nhiên, nội dung bộ phim chỉ nói về nước Pháp, Israel và Syria nhưng làn sóng dịch bệnh hủi là một cột mốc lịch sử có thật, tạo nguồn cảm hứng để làm bộ phim này.  Bệnh hủi, vào thời kỳ mà khoa học chưa phát triển, người ta nghĩ đó là sự trừng phạt của chúa hoặc một loại bùa bả tà ma do một số phù thủy tạo nên. Chính sự tưởng tượng về các loại ta ma yếu quái này mà các bộ phim Hollywood đã tạo nên những kịch bản khá ly kỳ thu hút người xem. 

 Quay trở lại với Wadi El Natrun. Trong tiếng ả rập, wadicó nghĩa là thung lũng. Trên trục đường từ Cairo lên phía bắc là một khu vực rải rác các con hồ nhỏ, được tạo nên nhờ việc giữ lại nguồn nước mưa. Do nằm vị trí địa lý được bao bọc bởi các hồ này mà người Ai Cập đặt cho cái tên “thung lũng” mặc dầu chẳng có dãy núi nào bao quanh cả. Còn cái tên El Natrun thì sao? Natrun là một loại khoáng chất sodium, được triết xuất từ các thềm hồ xung quanh. Vào thời Ai Cập cổ đại,  người ta sử dụng chất này để ướp xác cho các vị pharaon. Wadi El Natrun là nguồn cung cấp chủ yếu cho loại khoáng sản này.  

 Thực tế chuyến thăm các tu viện ở Wadi El Natrun không giống như những gì tôi mường tượng. Sách vở đã thêu dệt lên một hình ảnh tu viện nằm lẻ loi trong sa mạc. Thế nhưng đó là hình ảnh của một tu viện đầu thế kỷ 20. 

 Wadi El Natrun ngày nay không còn là một sa mạc hẻo lánh nữa mà là cả một đô thị nhỏ với nhà cửa và đường xá bao vây quanh các tu viện và hệ thống thành lũy. Điều đó có nghĩa rằng cuộc sống thành thị đã len lỏi được đến đây và làm ảnh hưởng ít nhiều đến truyền thống ở ẩn của các tu sĩ. Thành lũy Wadi El Natrun có thể chống cự lại các cuộc công kích của dân du mục vào thế kỷ thứ 3, của quân đội hồi giáo vào thời trung cổ, thế nhưng nó không thể chống lại bước tiến của văn minh đô thị ở thế kỷ 21. Còn việc bước tiến đó được tiếp nhận thế nào, nó phụ thuộc vào cái nhìn của mỗi người. Chí ít, nếu nhìn vào thực tế, có thể thấy rằng sự phát triển đô thị xung quanh các tu viện phần nào giúp cải thiện đời sống của các tu sĩ. Đã có những phòng ngủ mới cho họ, đã có thêm các vườn rau cho họ, đã có thêm những khoảnh đất canh tác… chỉ có điều, liệu sự cải thiện sẽ mãi theo chiều hướng như vậy? Cách đây 1000 năm, các tu sĩ chỉ biết dùng giấy và mực thô sơ rồi dùng con lừa để chuyển văn thư. Còn ngày nay? Họ có thể dùng Internet và email. 

 Trước khi chúng tôi đến đây, công ty Ictus Voyages đã đặt trước lịch hẹn với một tu sĩ địa phương, cha Ruis. Và tất nhiên, cha dùng email để giao dịch. Điều đó đồng nghĩa với việc Internet đã làm thay đổi thói quen của tu sĩ. Khi mà Facebook, Youtube, Play Station đang tràn lan ở thế giới bên ngoài, liệu có một ngày nào đó chúng sẽ len lỏi vào cuộc sống hằng ngày của họ?  

 Vậy, mô hình phát triển của các tu viện thiên chúa giáo tại Ai Cập như thế nào? Đơn giản thôi. Ban đầu, vào những thế kỷ 4-5, những ẩn sĩ đầu tiên lùi về các khu vực hẻo lánh này để sống một cuộc sống tu hành rất khắc khổ và hầu như đơn độc. Họ thường chọn những nơi chí ít có nước để sống, một trong những nguyên nhân giải thích tại sao đa phần các tu viện đều nằm gần một nguồn nước hoặc cạnh một ốc đảo. Năm thì mười họa, họ mới tiếp xúc với một số cộng đồng dân thường sống gần đó. Những người ẩn sĩ đầu tiên này có vẻ rất được lòng dân tình địa phương vì họ có cái nhìn cuộc sống hướng thiện và hay cứu người. Sự “nổi tiếng” của các ẩn sĩ dần dần được truyền miệng đến tai những thế hệ tu sĩ sau và thế là lần lượt các vị tu sĩ mới mò đến để được thỉnh giáo. Họ chuyển đến xây một túp lều không quá xa nơi thế hệ tu sĩ đầu tiên đang ở và nhờ đó tạo lên một nhóm tu sĩ ở ẩn. Từ một nhóm nhỏ, họ trở thành một cộng đồng nhỏ sống kiểu tự cung tự cấp. 

 Theo dòng thời gian, với việc tiến hóa của cuộc sống tu hành, họ cùng nhau xây những khu vực cầu nguyện hoặc ăn uống tập thể. Đây là những yếu tố căn bản đầu tiên để tạo nên một tu viện : một nơi để cầu nguyện, một nơi để ở, một nơi để ăn, một khu vực đất canh tác, và cuối cùng là một hệ thống phòng thủ bao gồm chòi canh và tường thành để đề phòng các cuộc tấn công của bộ tộc du mục trong sa mạc.

 Chính sự hiểm nguy từ sa mạc là nguyên nhân chính khiến mô hình tu viện thiên chúa giáo ở Trung Đông nói chung rất khác so với các tu viện ở Châu Âu. Ban đầu, các ẩn sĩ sống trong các hang động hoặc túp lều riêng lẻ. Nhưng khi mà bộ tộc du mục tấn công quá nhiều, họ buộc phải xích lại gần nhau để tạo nên một cộng đồng an toàn hơn. Ban đầu, cộng đồng tu sĩ thỉnh thoảng tiếp xúc với thế giới bên ngoài nhưng do những nguy hiểm tiềm ẩn, họ ngày càng trở nên khép kín và dè chừng những người lạ xâm nhập vào bên trong tu viện. 

 Vào thời trung cổ, mỗi một tu viện giống như một pháo đài thực thụ với hệ thống phòng thủ khá kiên cố. Để củng cố thêm sự vững chắc, các cộng đồng tu sĩ cho xây các tu viện nằm gần nhau (khoảng 1km đổ lại) với mục đích tạo thành một quần thể các công trình kiến trúc phòng thủ để dễ hỗ trợ nhau trong trường hợp bị một thế lực bên ngoài tấn công dồn dập. Nhu cầu này cũng dễ hiểu vì ngay từ thế kỷ thứ 10, Ai Cập là lãnh thổ của người hồi giáo. Và khi mà xung đột giữa thiên chúa giáo và hồi giáo lên đỉnh điểm ở những thế kỷ 12-13, việc nằm ngay trong lòng tổ kiến hồi giáo thực sự là một mối nguy hiểm thường trực. Mô hình quần thể tu viện được thể hiện rất rõ tại Wadi El Natrun với sự hiện diện của 4 tu viện khác nhau, nằm cách nhau chừng 500m. Theo sổ sách ghi lại, vào thể kỷ thứ 11, nơi đây có khoảng 50 tu viện lớn nhỏ với vài trăm tu sĩ. 

 Không quá ngạc nhiên khi chúng tôi là nhóm khách du lịch duy nhất đặt chân đến đây. Trên 100 du khách đến Ai Cập, đại đa số đổ xô đến kim tự tháp, các bãi biển tuyệt đẹp dọctheo Biển Đỏ hoặc đi du thuyền dọc theo sông Nile. Có ai dở hơi tốn thời gian đến cái xứ khỉ ho cò gáy này để tìm hiểu về thiên chúa giáo hay trau dồi kiến thức? Mệt đầu.

Chỉ với 4 tu viện nhưng chuyến viếng thăm Wadi El Natrun cũng phải mất xấp xỉ 5h. Chúng tôi tiếp tục hành trình bằng con đường quốc lộ nối Cairo và Alexandria lên phía bắc. Trên trục đường này, chúng tôi dừng chân nghỉ đêm tại Anafora (cách Wadi El Natrun 35km về phía đông và Cairo 75km về phía bắc), tuy là một nơi nghỉ đêm vô danh trong con mắt khách du lịch nhưng lại rất nhiều nhóm khách du lịch hành hương thiên chúa giáo biết đến. Cũng phải thôi, được xây lên và quản lý bởi cộng đồng Coptic, mục đích chính của Anafora là để đón tiếp các nhóm người có thiên hướng sùng đạo thiên chúa giáo, nơi người ta có thể tận hưởng những khoảnh khắc yên tĩnh của sa mạc về đêm. 

 Tuy nhiên, Anafora không nghiêm cấm bất cứ du khách nào không phải đạo thiên chúa mà muốn ngủ qua đêm.  Tôi khá ấn tượng với cách bài trí bên trong của khu vực phòng cầu nguyện với thảm trải nhiều màu sắc sặc sỡ do chính trung tâm Anafora dệt. 

 Lạc vào Anafora như thể lạc vào một ốc đảo thiên chúa giáo giữa lòng Ai Cập hồi giáo. Tại đây, tất nhiên là đại đa số du khách đều theo đạo thiên chúa. Xung quanh khu vực nghỉ đêm là cả một khu vườn canh tác rộng lớn, nơi người dân địa phương trông rau và hoa quả để phục vụ bữa ăn cho khách. Điều đó đồng nghĩa với việc các bữa ăn ở đây phần lớn là ăn rau quả. Nhưng cũng có thịt nữa! Đó là điều khác biệt so với những người theo đạo Phật kiểu Việt Nam, hay ăn chay. 

 Các căn phòng ngủ ở đây đều được xây bằng rơm và đất nung. Nếu nhìn từ trên cao, sẽ nhận thấy tất cả các phòng được xếp thành hình dấu chấm hỏi với phòng cầu nguyện nằm ở vị trí dấu chấm. Tại sao lại có cách bài trí như vây? Theo cha Thomas, người quản lý ở đây, trong mỗi một đời người, ai cũng có lúc tự đặt cho mình câu hỏi làm thế nào để tu hành chính quả. 

 Phương pháp quản lý ở đây cũng rất thông minh. Dưới sự dẫn dắt của cha Thomas là khoảng 25 người đến đây làm việc từ thiện, họ tham gia vào tất cả các hoạt động của trung tâm như nấu ăn, phuc vụ ăn uống, dịch vụ phòng…một số bạn trẻ đến từ nhiều nơi trên thế giới, góp phần tăng thêm tính quốc tế của trung tâm. 

 Ngày tiếp theo trên hành trình khám phá tu viện là một ngày dài trên đường bụi bặm với khoảng hơn 300km. Đó là chặng đầu tiên trong chuyến đi mà tôi thấy nó dài lê thê. Chúng tôi ngồi mài đũng quần trong ôtô băng qua đại dương sa mạc như thể những con chiên của chúa đang rạo rực khí thế tiến về miền đất hứa, một nơi nào đó nằm gần ven biển Đỏ. Bản thân tôi thì thấy chặng đường đi chẳng có gì đặc sắc, sa mạc thì đẹp thật nhưng mà chỗ nào cũng giống chỗ nào nên chỉ sau vài tiếng thì bạn sẽ thấy oải ngay. Nhưng với những thành viên đoàn thì lại khác bởi họ là những người sùng đạo và có lòng tin vào chúa. Vì thế, điểm đến sắp tới của chúng tôi tạo cho họ một cảm giác gì đó rất hồi hộp. Trên chuyến xe, các thành viên không có khi nào ngừng trao đổi với tôi về tu viện Saint Antony,vị thánh rất nổi tiếng trong lịch sử các vị tu sĩ ở ẩn. Thậm chí có rất nhiều tranh nghệ thuật của những thế kỷ 16-18 tại Châu Âu tưởng tượng chân dung của vị tu sĩ này.  

 Cũng giống như quần thể tu viện ở Wadi El Natrun, tu viện Saint Antony được bao quanh bởi một hệ thống thành lũy nhằm mục đích phòng thủ chống lại những đợt tấn công của các bộ tộc du mục đến từ sa mạc. Một điểm đáng chú ý ở đây là người địa phương không sử dụng các khối đá rất sẵn từ mỏm núi xung quanh mà họ lại sử dụng gạch đất nung. Tại sao vậy? Đó là vì tại đất sa mạc Ai Cập, nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm rất lớn, từ -2 độ đến 50 độ. Với sự khác biệt quá lớn như vậy, các khối đã dễ bị vỡ lở, nhưng ngược lại gạch đất nung có chứa tố chất đàn hồi nên sẽ tồn tại lâu bền hơn. 

 Nằm trơ trọi giữa một vùng đất khô cằn nhưng lạ thay tu viện ngày nay không còn là một địa danh cô độc nữa. Nó đã trở thành một điểm đến du lịch ưa thích cuả những ai theo đạo thiên chúa giáo.  Không qúa ngoa khi nói rằng tu viện ở đây đã bị “du lịch hóa” bởi nguồn thu tài chính tiềm năng từ các phái đoàn du lịch thiên chúa giáo. Nhận biết được điều này, chính quyền địa phương đã đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng, cho xây hẳn một con đường rải nhựa dẫn thẳng đến cửa tu viện. 

 Ngoài ra, bên trong thì toàn những đồ lưu niệm liên quan đến Saint Antony : bút chì, tranh ảnh, nến, xâu chìa khóa. Đấy là chưa kể các sản phẩm như dầu ôliu, bánh ngọt, được quảng cáo là do chính tay các tu sĩ tại đây làm. Tôi nghĩ bụng : “đi tu kiểu gì mà bày vẽ ra đủ các loại đồ lưu niệm thế nhỉ? Chắc các tu sĩ ở đây toàn fake?” Có thể mới biết ranh giới giữa tu hành khổ hạnh và cám giỗ trần gian thật là mong manh. 

 Một điều thú vị nữa mà tôi nhận thấy ở chuyến viếng thăm này, đó là việc phương pháp tu hành của các tu sĩ không còn thuần túy như cách đây vài nghìn năm. Nó đã “tiến hóa” rất nhiều theo thuyết tiến hóa của Darwin. Đối với tôi, tu viện Saint Antony đơn thuần chỉ là nạn nhân của hiện tượng “Disneyland” hóa các địa danh du lịch. Nếu như các bạn đã từng một lần đến công viên Disneyland một lần thì chắc sẽ hiểu hàm ý của tôi. Bạn hãy tưởng tượng khi vào công viên này, tất cả những gì bạn nhìn thấy chỉ là công nghệ bài trí với mục đích tạo cảm giác bạn đang lạc vào thế giới của các bộ phim hoạt hình do Disneyland tạo ra, từ chú chuột Mickey đến nàng bạch tuyết. Tu viện Saint Antony có cái gì đó tương đương như vậy. Tại đây, các khu vực nhà ở cho tu sĩ được “bài trí” một cách nhân tạo để cố tình tạo cho du khách cảm giác rằng họ đang lạc vào cuộc sống tu hành của vài nghìn năm trước. Nhưng trên thực thế vẫn có một vài sơ hở…

 Hãy nhìn vào các ngôi nhà này, đây là các căn phòng dành cho các tu sĩ. Theo truyền thống trước kia, mỗi một căn phòng dành riêng cho một tu sĩ, họ sống biệt lập bên trong để có thể toàn tâm toàn ý cầu nguyện. Các bữa ăn được chuyển vào thông qua chiếc cửa sô nhỏ bên cạnh. Còn ngày nay, phương pháp đã thay đổi. Muốn gọi tu sĩ ra ăn cơm? Hãy sử dụng chuông điện tử bên cạnh cửa! Tôi tự hỏi có khi sắp tới người ta “nâng cấp”, trang bị hẳn cho tu sĩ Iphone hoặc Ipad cũng nên.

Chúng tôi được một vị tu sĩ ở đây kiêm hướng dẫn viên địa phương và giải thích một chút về tu viện này. Tôi sẽ không giải thích quá nhiều về những gì mà ông ta nói vì kiến thức liên quan nhiều đến chuyên môn (lịch sử thiên chúa giáo, nghệ thuật tranh vẽ trên tường…). Cái mà tôi muốn nói đến ở đây, một lần nữa. đó là việc vị tu sĩ này làm hướng dẫn viên “chuyên nghiệp” quá. Cứ như thể ông ta biết trước sẽ có những vị khách du lịch đến đây để ông ta “chăn”. 
  Đến gần cuối chuyến viếng thăm quần thể các khu vực bên trong tu viện, chúng tôi được mời ăn một loại bánh mì làm tại đây. Sau đó, vị tu sĩ dẫn chúng tôi đến thăm một căn phòng mà theo ông ta nói “ chỉ dành riêng cho các vị thôi nhé”. Và bên trong có gì? Trời! Cả một gian phòng toàn đồ lưu niệm : tranh vẽ, bưu thiếp, sách dịch sang đủ thứ tiếng, tất cả đều được niêm yết giá Usd dành cho khách du lịch. Và bên cạnh đó có một gian đồ lưu niệm khác được niêm yết bằng Lira Ai Cập dành cho người dân địa phương. 

 Sau khi đã thăm xong quần thể tu viện, vị tu sĩ dẫn chúng tôi ra ngoài thăm cái hang, nơi được cho là Saint Antony đã từng sống tu hành trong đó. Dưới cái nóng 35 độ không một bóng cây, chúng tôi phải leo khoảng 2800 bậc thang lên đỉnh núi để thăm một cái động, một nhiệm vụ quá khó khăn đặc biệt là với khá nhiều thành viên đoàn đã bước sang tuổi 50. Chỉ có tôi và thêm 3 người nữa là đủ máu lửa để tiếp tục hành trình. Thời điểm mà chúng tôi bắt đầu leo lên đã là 14h và nhiệt đỗ lúc đó cũng phải rơi vào tầm 35-38 độ. Vị tu sĩ đúng là khéo chọn thời điểm đúng lúc mặt trời lên cao nhất và trong tay tôi chỉ là một chai nước đang nóng dần lên bởi ánh nắng. 

 Sau chuyến đi ôtô 4 tiếng, giờ lại thêm một cuộc leo núi ngoạn mục nữa. Có lẽ đây là ngày mà tôi cảm thấy mình thực sự là một vận động viên thể thao chuyên nghiệp. Khi đã leo lên đỉnh rồi, tôi có được một cái nhìn toàn cảnh sa mạc từ trên cao, một khung cảnh hùng vĩ. Và phần thưởng xứng đáng dành cho những ai đủ kiên nhẫn leo lên đỉnh là chuyến viếng thăm cái hang mà Saint Antony ở. 

 Đôi lời về vị thánh này. Ông là một trong 4 vị tu sĩ đầu tiên khởi đầu phong cách tu hành khổ hạnh theo kiểu tự đào một cái lỗ, sống xa cách thế giới loài người, và chỉ tập trung vào cầu nguyện và nhịn ăn. Chính Saint Antony là người sáng lập là hệ thống các điều luật tu viện đầu tiên và cũng là người sáng lập tu viện đang nằm dưới chân núi hiện nay. 

 Khi từ trến đỉnh núi quay trở lại tu viện thì cũng đã đến cuối buổi chiều. Chúng tôi quay trở lại ôtô và nghỉ đêm tại Hurghada, cách tu viện Saint Antony 45km về phía nam.