Sunday, August 19, 2012

lần theo cuộc đổ bộ Normandie 1944


Cuộc đổ bộ bãi biển Normandie năm 1944, một sự kiện còn ghi mãi trong lòng người Pháp cũng như hình ảnh chiến thắng Điện Biên Phủ. Với những người yêu mến lịch sử và chiến tranh thế giới thứ II thì chắc sự kiện này chẳng có gì xa lạ cho lắm. Trong bài viết này, mục đích của tôi không phải để lại viết một bài thuyết trình miêu tả sự kiện này mà viết về tâm trạng cũng như hồi ức của tôi trong thời gian đi dọc theo bãi biển Normandie và thăm những di tích chiến tranh còn sót lại nơi đây.

Nhớ lại thời điểm năm 2008, tôi theo một khóa thực tập 4 tháng về ngành quản ký khách sạn gần thành phố Caen, nằm ngay trung tâm của khu vực Basse Normandie, nơi các cuộc đổ bộ xưa kia xảy ra. Với lợi thế ở gần như vậy, tôi thường dành thời gian rảnh rỗi cuối tuần bắt xe bus kết hợp cùng đạp xe đạp dọc theo bờ biển để thăm những gì còn sót lại từ năm 1944. Bài viết này tổng kết lại nhiều mảnh nhật ký cá nhân mỗi khi tôi thăm một di tích (bảo tàng, nghĩa trang, phế tích căn cứ quân sự) để tạo hẳn thành một chuỗi thống nhất 

đạp xe dọc theo bờ biển để truy tìm những gì còn sót lại từ cuộc đổ bộ năm 1944 là một trong những thú vui của tôi trong thời gian thực tập vùng Norrmandie phía bắc nước Pháp
Trước khi vác vali đến đây,trong đầu tôi là những mường tượng thật hùng vĩ như sử thi đam săn bởi nó được thêu dệt lên qua những bộ phim tôi xem cũng như những trò chơi điện tử mà tôi đã từng chơi. Không bị ảnh hưởng sao được khi trò chơi nhập vai commandosCall for Duty quá hay. 

tôi biết đến sự kiện năm 1944 lần đầu tiên nhờ trò chơi điện tử PC Commandos hồi còn học lớp 10
tôi học được nhiều điều về thế chiến thứ II qua trò chơi này
Địa danh đầu tiên mà tôi phải nói đến là khu di tích lịch sử Arromanches. Arromanches đóng vai trò tối quan trọng trong chiến dịch đổ bộ bởi đây là một cảng nhân tạo làm bàn đạp cho quân đồng minh nhập đất liền và tỏa đi các nơi khác. Sự thành công trong việc xây dựng cả 500m cảng nổi trên biển mang tính quyết định đến sự thành công của chiến dịch. Thời gian hoạt động của cảng nhân tạo Arromanches không lâu, chỉ 100 ngày, nhưng 400.000 binh lính đã bước qua nó để đổ bộ đất liền cộng thêm 4 triệu tấn thiết bị quân sự và 500.000 xe vận chuyển (xe tăng, xe jeep, xe thiết giáp, xe tải vận chuyển…)


Cũng tại trên địa điểm mà hàng trăm con người đặt chân đến, ngày nay không còn gì nhiều còn sót lại, chỉ là lèo tèo hai cái bình bong bằng bêtông. « Port Winston » không còn nữa mà chỉ còn lại những khối sắt rỉ. Những tiếng xe tăng chạy rầm rú hay tiếng vang đầy khí thế của các chiến binh năm nào nay nhường lại cho không khí yên bình nơi chỉ còn lại những tiếng sóng vỗ vào.  

Quân liên minh sử dụng những « phao nổi » như thế này để xây dựng cảng nổi. Tất cả đều được làm bằng bê tông và thép ngay từ bên Anh. Sau đó, các tàu lớn chở cúng qua eo biển Măng-xơ và thả chúng gần Arromanches.

Sau những giây phút đi dạo trên những đụn cát, tôi thăm rạp chiếu phim Arromanches 360°,  một chiêu bài lợi hại mà người Pháp sử dụng để giúp cho du khách có được những mường tượng cụ thể hơn về lịch sử.  Rạp được thiết kế theo hình tròn mục đích để người xem nằm ngay tại trung tâm tạo cảm giác như thể họ chính là nhân vật trung tâm chứng kiến những giây phút hồi hộp của chiến dịch đổ bộ.


Bộ phim tài liệu « le prix de la liberté » được trình chiếu dưới 9 màn hính ở những góc độ khác nhau. Đây là một sản phẩm du lịch được xây dựng công phu với sự kết hợp song song giữa tư liệu lịch sử do các nhà quay phim thời điểm ấy thực hiện cộng với những hình ảnh của các di tích còn sót lại ngày nay. Với kỹ thuật chiếu 360°, tôi có cảm giác như đang chính là một trong những binh lính Mỹ, Canada, Anh hay Pháp cũng hừng hực khí thế trước giờ G, ngày 6 tháng 6 năm 1944. Thật vây, với kỹ thuật lắp đặt camera, tôi có cảm giác như chính mình đang đi bộ dọc theo cảng Arromanches, lái máy bay tiếp tế lương thực, xông vào một lỗ châu mai của địch hay cùng đồng đội đổ bộ lên bãi biển. Quá tuyệt !

Tại Arromanches, trên một ngọn đồi là chiếc xe tăng Pháp hiên ngang hướng nòng súng về bãi biển, nơi họ khởi xướng cuộc giải cứu quốc gia khỏi sự xâm lăng của Đức
Có thể nói Arromanches là một bàn đạp, không những về mặt chiến dịch đổ bộ mà còn là về mặt kiến thức hiểu biết. Hiểu được Arromanches rồi thì sẽ dễ dàng hiểu vị trí những bãi biển mà quân liên minh đổ bộ. Quay lại vào thời điểm thế chiến thứ II, quân Đức phải xây dựng một hệ thống kênh hào phòng thủ trải dài khắp phía bắc nước Pháp, kéo dài tới 5000km.


 Tuy nhiên, họ chỉ có tổng cộng 700.000 lính canh giữ trong khi đó, quân liên minh huy động đến gần 3 triệu binh kính từ Mỹ, Anh, Canada, Pháp. Sự đổ bộ ồ ạt cùng lúc lên các bãi biển khác nhau và sự chênh lệch về số lượng giải thích một phần cho thất bại của quân Đức


Các bãi biển này đều được đặt tên riêng và mỗi một bãi biển được giao phó cho một quốc gia: Utah Beach + Omaha (quân Mỹ), Gold Beach + Sword Beach (quân Anh), Juno Beach (quân Canada). Trong số 5 bãi biển này, tôi chỉ thăm được 2 bãi biển có quân Mỹ đổ bộ, một phần cũng là vì đây là hai bãi biển được tôi biết đến nhiều hơn thông qua các bộ phim tôi xem cũng như trò chơi điện tử .


Nếu như hai bãi biển Omaha Beach và Utah Beach là nơi quân Mỹ đổ bộ thì bên kia chiến tuyến, la pointe du Hoc là điểm phòng thủ đáng nói nhất của quân Đức.


Nằm trên một vực thẳm cao 30m, đây là nơi họ có thể nhìn được từ xa và khống chế cả hai bãi biển Omaha và Utah. Quân Đức cho xây kiên cố một lỗ châu mai với 5 khẩu đại bác có thể cày nát cả hai bãi biển trong vài phút .


Nhận thấy sự nguy hiểm đó, việc khống chế được lỗ châu mai này mang tính quyết định đến sự thành công của việc đổ bộ sau đó. Trước quộc đổ bộ vài ngày, quân liên minh cho máy bay dải bom rất nhiều để phá hủy các ụ pháo ở Pointe du Hoc nhưng các quả bom rơi xuống không chính xác nên không gây thiệt hại nhiều cho quân Đức đóng ở đây.

 Quân liên minh quyết định cử một biệt đội commandos xâm nhập vào căn cứ địch trước và cầm cự trong vòng 2 ngày trước khi chờ sự viện trợ từ quân đổ bộ từ Omaha Beach. Nhiệm vụ này được tái hiện phần nào trong trò chơi commando.


 Một tiểu đoàn hơn 200 đặc công được giao phó nhiệm vụ lẻn vào căn cứ địch bằng cách leo trèo vực thẳm từ dưới biển lên chỉ trong vài phút. Nếu như việc trèo lên không gây thiệt hại về quân số thì việc đôi công với quân địch tại đỉnh là lúc đẫm máu nhất.


Bị phản công tứ phía và bị cắt nguồn tiếp viện phía sau, cả tiểu đoàn chỉ còn biết nấp sau những hố bom (do máy bay liên minh dải thảm tạo ra trước đó) và cầm cự chờ cho đến khi quân đổ bộ ở các bãi biển Utah Beach và Omaha Beach gần đó đến giải nguy. Sau nhiệm cụ này, chỉ còn lại 90 lính là đủ sức chiến đấu, còn lại thì bỏ mạng.


Những ụ pháo như ở Pointe du Hoc được xây dựng dọc theo bờ biển Normandie và phần lớn đều bị phá hủy trước và trong chiến dịch đổ bộ bởi máy bay ném bom của quân Liên Minh. Ngày nay, không còn nhiều di tích lịch sử liên quan đến hệ thống phòng thủ của Đức. Cũng phải chịu khó đạp xe đi dọc theo bờ biển thì tôi mới phát hiện thêm hai địa danh nữa giúp ta mường tượng được phần nào sự kiên cố của nó.


Cái thứ nhất là hệ thống 4 ụ pháo 150mn ở thị trấn Longues-sur-mer được đặt ngay tại cửa biển Gold Beach hồi ấy thuộc phần đổ bộ của quân Anh. Được đặt ngay trên đỉnh một ngọn đồi cao 65m, đây thực sự là một vị trí lý tưởng để cố thủ và đánh chặn các tàu chiến ngoài khơi.


Các khẩu đại bác tầm bắn là 20km nhưng trên thực tế đã không hoàn thành nhiệm vụ và để cho quân Anh xuyên thủng. Chỉ sau 24h, ụ pháo của Đức bị khống chế hoàn toàn và hơn 200 lính Đức phải đầu hàng.  


Cái thứ hai là hệ thống chiến tũy phòng thủ của Đức có thể được tìm thấy ở thị trấn Grandcamp Maisy và cũng phải nói rằng địa danh này bị bỏ quên trong vòng hơn 60 năm rồi sau này mới được để ý đến để phát triển du lịch.


Chiến lũy ở đây dài khoảng hơn 2km với một đoạn chiến hào đào sâu dưới lòng đất và hiện tại vẫn còn. Tại sao phải mất hơn 60 năm người ta mới tìm lại được chiến lũy này ? Bởi vì ngay sau khi chiến dịch đổ bộ năm 1944 thành công, quân Liên Minh cho phá hủy và chôn vùi toàn bộ chỗ này. Những gì tôi nhìn thấy vào năm 2008 chỉ là một phần được các chuyên gia đào tìm thấy và mở cửa cho công chúng vào xem. Như vậy có nghĩa là dưới lòng đất có thể có thêm một đoạn chiến lũy nữa chưa được khai quật.


Với một hệ thống phòng thủ kiên cố như ở Grandcamp Maisy chấn giữ ngay cửa biển Omaha Beach, chúng ta cũng có thể mường tượng việc đánh chiếm được nó khó như thế nào. Nhưng vỏ quýt dày có móng tay nhọn và bãi biển Omaha Beach là nới chứng kiến sự so tài hấp dẫn giữa công và thủ. 


Omaha Beach có lẽ là một trong những điểm tôi yêu thích nhất sau Arromanches bởi đây chính là nơi đổ bộ đẫm máu nhất và cũng được lăng xê nhiều nhất qua phim ảnh. Ngày nay, đây là một bãi biển tuyệt đẹp nhưng vào năm 1944 thì đây là biểu tượng của sự dũng cảm, của lòng kiên định xen lẫn với sự bi thảm. Ngày mồng 6, hàng trăm ngàn lính Mỹ đổ bộ xuống như những cơn đại hồng thủy ào vào chiến hào quân Đức. Trải dài trên 6 dặm, Omaha Beach là bãi biển dài nhất trong số 5 bãi biển đổ bộ và do bị cô lập bởi những vực cao bao quanh nên đây cũng là khu vực hiểm trở khó tấn công nhất. Không phải ngẫu nhiên mà quân Đức chủ ý chọn vị trí này làm nơi phòng thủ. Ngoài lợi thế về vị trí, họ cũng cho xây dựng một hệ thống lỗ châu mai và mìn rất kiên cố. Người Đức rất tự tin vào hệ thống kiên cố này và đinh ninh rằng một khi quân Liên Minh đổ bộ thì chẳng khác gì những con thiêu thân lao vào những cỗ súng máy của họ.

Quân Mỹ đổ bộ như những con thiêu thân và thiệt hại rất nhiều về quân số ngay trong 6h đầu tiên. Nhưng người nào sống sót được là nhờ may mắn và sự che chở của những rào cản trên biển
  Và quả thật quân Mỹ đã gặp rất nhiều khó khăn từ nhiều phía : gió biển mạnh đẩy các con tàu đổ bộ dạt sang một bên nên không đến được điểm như dự kiến, các đợt đánh bom dải thảm trước đó không hiệu quả nên các lỗ châu mai Đức không hề hấn gì, các xe thiết giáp không đạt được độ gần với bãi biển như mong đợi nên không thể che chở cho binh lính và khiến họ phải trực tiếp hứng chịu cơn mưa đạn súng máy Đức.

Những ai may mắn sống sót lê lết ẩn náu vào các vực thẳm và tự lên dây cót tinh thần cho những đợt xâm nhập tiếp theo
 Đó là lý do vì sao gần 3000  binh lính Mỹ hoặc chết hoặc bị thương chỉ trong 6 tiếng đầu tiên trong khi họ chỉ tiến được có 2km. Quả không ngoa khi nói rằng kế hoạch đổ bộ ở Omaha Beach súy chút nữa thì thất bại nếu không nhờ may mắn và sự quả cảm không tưởng của lính Mỹ. Không thể đánh trực diện ngay tại bãi biển Omaha, những tiểu đoàn sống sót dùng những sức mạnh cuổi cùng xâm nhập vào hai vực thẳm hai bên sườn bãi biển, nơi mà hệ thống phòng thủ của quân Đức yếu hơn rất nhiều và phải nhờ đó kế hoạch mới thành công.
rất nhiều chiến sỹ hi sinh không có mồ chôn tử tế và đồng đội lấy súng thay cho chiếc thánh giá
Ngay tại nơi 3000 binh sỹ Mỹ tử trận là một đài tưởng niệm
Có thể nói sau kỳ công Arromanches, việc xuyên thủng hàng phòng ngự Đức ở Omaha Beach là điểm nhấn thứ hai, quyết định đến sự thành công cục bộ của chiến dịch đổ bộ Normandie. Quả thật là sự phòng ngự quá tốt của quân Đức đã khiến cho kế hoạch của quân Liên Minh kéo dài lâu hơn dự kiến, gần như là 12 tuần chứ không phải là một tuần.

một mặt, người ta dựng lại chi tiết cách mà quân Mỹ đổ bộ xuống, cách họ tự giải cứu trong tuyệt vọng trước dòng đạn của địch, và cách họ chết oai hùng
Để tưởng nhớ đến chiến công hiển hách của quân Mỹ, viện bảo tàng được xây dựng lên. Bên trong được trưng bày những hiện vật như đồng phục, vũ khí và những kỷ vật thuộc về binh lính đã ngã xuống. Các cảnh giáp chiến hồi ấy được tái hiện lại qua cách dựng rất sống động

mặt khác, cách chuẩn bị của quân Đức cũng được giải thích kỹ càng

Nghĩa trang liệt sỹ Hoa Kỳ theo tôi là địa điểm lịch sử nổi tiếng thứ hai sau Arromanches. Nằm rất gần Omaha Beach, tại đây là 9386 ngôi mộ của binh sỹ Mỹ hi sinh trong ngày đổ bộ.  Nói là « liệt sỹ » thì cũng không chính xác cho lắm vì đại đa số các binh sỹ hi sinh đều được xác định rõ họ tên, chỉ có 337 ngôi mộ là không biết nguồn gốc.


Nghĩa trang này đối với riêng tôi là một kỷ niệm đáng nhớ. Trên đường đến đây, tôi tình cờ gặp được hai chàng trai trẻ người Mỹ. Sau cuộc nói chuyện, tôi được biết cả hai đều là hậu duệ của hai mộ phần tại đây. Khi vào bên trong, tôi lại gặp thêm nhiều du khách Mỹ nữa, chắc cũng là con cháu đên đây thăm tổ tiên họ, những người đã ngã xuống mãi mãi tại một nới cách quê hương đến hơn  chục ngàn cây số.

rất nhiều hậu duệ của những binh sĩ Mỹ xưa kia quay lại nghĩa trang này để thăm mộ cha ông họ. Có lẽ cuộc tấn công ở Normandie là một trong những tiền đề reo rắt trong tâm trí binh sĩ Mỹ ngày nay một tâm niệm : hy hinh ở biên cương xa xôi cho một hòa bình lâu dài và sự an toàn của chính quốc gia họ. Phải chăng việc tấn công ở  irắc, Afghanistan cũng có nguồn gốc từ sự kiện này?


 Không nổi tiếng bằng Omaha Beach nhưng Utah Beach cũng để lại một số dấu ấn trong tôi. Tại đây, được xây dựng viện bảo tàng và nhìn từ xa trông giống như một con sò khổng lồ bị mắc cạn trên bãi biển. Và cái đặc biệt ở đây, đó là vị trí mà viện bảo tàng được xây lên xưa kia là lô cốt của quân Đức bị quân Mỹ khống chế


Khác với viện bảo tàng ở Omaha, chủ yếu giải thích về cuộc giáp chiến đôi công trên bãi biển, Utah Beach giải thích nhiều hơn về những công nghệ tiên tiến mà quân Liên Minh sử dụng trong ngày đổ bộ.


Quay lại quá khứ, Utah Beach đóng một vai trò khác so với 4 bãi biển còn lại. Thứ nhất, nó là phương án B, nếu như kế hoạch đổ bộ tại 4 khu vực kia không thành công thì quân liên minh vẫn có thể đổ dồn toàn bộ lực lượng vào Utah như quân bài cuối cùng. Thứ hai, quân liên minh cũng cần một cảng biển đủ độ sâu để đưa vào đất liền một số lượng lớn thiết bị quân sự trong một thời gian ngắn tiếp viện cho các khu vực kia và chỉ có Utah mới đáp ứng được nhu cầu đó. 


Ngày nay, trên bãi biển còn sót lại khá nhiều di tích giúp ta phần nào mường tượng được sự kiên cố trong phòng thủ của quân Đức. Họ thiết lập hàng loạt dây thép có gai để ngăn không cho lan can chở lính của đối phương đổ bộ. Tiếp đến là những bức tường bằng bê tông cao tầm 1m80 mục đích là để chặn bước tiến nhanh của xe bọc thép. Nhưng với chiến thuật hợp lý của quân liên minh, họ cho máy bay dải thảm để phá hủy những chướng ngại vật này và giúp cho kế hoạch Utah thành công.

Trái ngược với Omaha Beach, quân Mỹ ở Utah Beach không gặp quá nhiều khó khăn trong việc đổ bộ do lực lượng phòng ngự của Đức bị làm yếu đi sau những đợt oanh tạc của máy bay
quân liên minh ồ ạt đổ bộ lên Utah Beach cộng theo hàng ngàn tấn trang thiết bị tiếp viện cho các khu vực lân cận
Utah Beach ngày nay trở nên thành bình. Những vết hằn do bánh xe tăng chạy qua đã tan biến theo thời gian và nay là những đụn cát mịn
Hàng phòng ngự Utah bị xuyên thủng, 20 .000 lính thủy đánh bộ Mỹ cùng 1720 xe thiết giáp cùng lúc đổ bộ tại đây và Utah trở thành một bàn đạp cực kỳ quan trọng về mặt hậu cần và tiếp tế trong những cuộc giáp chiến tiếp theo của quân liên minh trong đất liền.

Chỉ thiệt hại không quá 100 binh lính, một đài tưởng niệm cũng được dựng lên để tưởng nhớ chiến công của họ


Thursday, August 9, 2012

Palmyre - nữ hoàng vùng sa mạc


Hình ảnh nước Syria vốn dĩ không được rõ nét trong con mắt người Châu Á và nay hình ảnh đó lại còn bị làm xấu đi bởi những bất ổn chính trị trong nước. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng quốc gia này đang sở hữu một bề dày lịch sử đáng nể, sánh ngang với nền văn minh La Mã, Ai Cập hay Ba Tư. Và minh chứng hùng hồn nhất : phế tích Palmyre. 


Là một người thực sự yêu thích lịch sử, tôi còn nhớ những ngày lục tất cả những quyển sách liên quan đến con đường tơ lụa ở thư viện thành phố hay thư viện trường đại học. Bạn sẽ hỏi tại sao con đường tơ lụa lại liên quan đến Palmyre. Có đấy và sự tồn tại của Palmyre gắn liền với lịch sử phát triển của con đường huyền thoại này. Khi có điều kiện, tôi sẽ viết hẳn một bài chia thành nhiều phần về nó. Còn tạm thời, ta hãy tập trung vào Palmyre, một trong 10 mắt xích quan trọng nhất của con đường tơ lụa và là minh chứng rõ nét nhất về sự giao lưu thương mại giữa Châu Á xa xôi và Châu Âu, có lẽ là một trong những di tích đầu tiên cho thấy cái mà người ta gọi là « toàn cầu hóa » (globalization) xuất hiện nhiều thế kỷ trước khi Christophe Columbus tìm ra Châu Mỹ. 


Tại sao lại có tên Palmyre ? Thực ra, tên gốc của đô thị này là Tadmor, nhưng sau đó người La Mă đổi lại thành tên Palmyre có nghĩa là « thành phố của những cây cọ ». Đúng là xung quanh đô thị này là một ốc đảo với rất nhiều cây cọ. Nằm cô độc giữa một vùng sa mạc khô cằn rộng lớn, ốc đảo Palmyre là một trong số hiếm thành phố nằm ngoài lô-gích phát triển đô thị thời cổ đại. Thật vậy, nếu như đại đa số các thành phố cùng thời được xây gần nguồn nước để phát triển nông nghiệp thì Palmyre lại lọt thỏm giữa một vùng khan hiếm nước. Thực ra thì các nhà khảo cổ xác minh rằng gần Palmyre cũng có dòng nước chảy nhưng nó đã khô cằn và cạn nước từ 2000 năm trước công nguyên nên rất ít khả năng ốc đảo dựa giẫm vào trồng trọt để tồn tại. Trái lại, Palmyre thịnh vượng chủ yếu dựa vào trao đổi thương mại hàng hóa. Nếu như nhìn trên bản đồ thì chúng ta sẽ thấy rằng hoàn toàn có lý khi Palmyre nằm ở một vị trí chiến lược, là điểm giao giữa nhiều tuyến đường thông giữa Trung Đông, Tây Á và Địa Trung Hải.  Nếu như ai đã đọc bài viết của tôi về thành phố Petra của Jordan thì sẽ thấy ngay rằng hai thành phố này cùng có một điểm chung : nút thắt quan trọng trong hệ thống giao lưu thương mại giữa Bắc Phi, Trung Đông, Địa Trung Hải và Châu Á. Và cũng có thể nói số phận lịch sử của hai thành phố này rưa rứa giống nhau. 


 Thật vậy, quay lại vào đầu thế kỷ II sau công nguyên, thời kỳ hùng mạnh nhất của đế chế La Mã, cả Petra và Palmyre đều bị sát nhập vào đế chế. Dưới sự quản lý trực tiếp của người La Mã giải thích một phần vì sao Palmyre chịu nhiều ảnh hưởng về mặt kiến trúc xây dựng. Palmyre tiếp tục là một trung tâm trao đổi thương mại dưới thời La Mã trong sự yên bình và thậm chí đôi khi còn là một vương quốc độc lập liên minh của La Mã. 


Tuy nhiên, một số người dẫn đầu không chịu sự ảnh hưởng La Mã đã nổi dậy chống lại họ và thất bại. Trước thái độ hỗn xược như vây, người La Mã cho quân đánh chiếm toàn bộ Palmyre và biến thành phố này thành một pháo đài làm vành đai bảo vệ đế chế chống lại sự xâm lược của những thế lực láng giềng, đặc biệt là người Ba Tư. Theo các chuyên gia sử học thì Palmyre được coi là giới hạn chính thức (biên giới) của đế chế La Mã : bên này là La Mã, còn bên kia vùng đất mà người La Mã cho là « unknown ». 


Kể từ khi đế chế La Mã sụp đổ cho đến thời kỳ đế chế Ottoman, Palmyre đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm và rơi vào quên lãng. Phải chờ đến thế kỷ XVII, những thương gia người Anh đầu tiên mới để ý đến việc truy tìm lại Palmyre nhờ vào sự giúp đỡ của người dân du mục địa phương. Bẵng đi một thời gian, phải chờ đến năm 1924 thì người Pháp mới tiến hành những cuộc khai quật đầu tiên và nhờ đó tìm hiểu những bí ẩn xoay quanh phế tích Palmyre. 


Về mặt quy hoạch đô thị thì Palmyre thừa hưởng 100% nền văn hóa La Mã với một trục đường chính dài hơn 1km công thêm hai hàng cột đá hai bên. Những di tích của Palmyre giúp các chuyên gia sử học khẳng định rằng thời kỳ đỉnh cao nhất của đế chế La Mã trong chiến dịch bành chướng lãnh thổ ở Trung Đông rơi vào tầm thế kỷ thứ II sau công nguyên. Đây là thời kỳ mà biên giới của đế chế được mở rộng nhất. Một khía cạnh nữa cũng phải nói đến, đó là công nghệ xây dựng của người La Mã. Để tiết kiệm thời gian, họ áp dụng đồng bộ kỹ thuật xây dựng cũng như mô hình quy hoạch đô thị cho bất cứ thành phố nào trực thuộc đế chế.

nhà hát, ví dụ điển hình cho thấy ảnh hưởng của La Mã trong quy hoạch đô thị Palmyre
Cụ thể : dù là thành phố ở Bắc Phi, Châu Âu hay Trung Đông thì đô thị phải xây dựa trên hai trục đường chính, có các đên thờ thánh, diễn đàn forum, quốc hội, hệ thống dẫn nước sạch…Và quả thật, khi tôi đặt chân đến Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Jordan, Syria thì đúng là những yếu tố trên ít hay nhiều đều được thể hiện trên những di tích còn sót lại. Những nghiên cứu về quy hoạch đô thị của Palmyre cũng cho phép các nhà khảo cổ giải thích được một câu hỏi hóc búa : làm cách nào để người dân nơi đây có thể sống khi không có nguồn nước nào chảy qua. Họ đã tìm được nguồn nước nhờ hai phương pháp : một là dự trữ nước mưa với một hệ thống các hũ nước, và hai là việc đào sâu xuống dưới lòng đất để tìm nguồn nước ngầm xung quanh Palmyre rồi sau đó xây dựng một hệ thống ống dẫn nước đưa về trung tâm.   


Điều đặc biệt của Palmyre là ngoài sự thừa hưởng công nghệ xây dựng của người La  Mã,các chuyên gia còn tìm thấy những ảnh hưởng về nghệ thuật trang trí xuất xứ từ đế chế Ba Tư láng giềng và những yếu tố chỉ có ở Palmyre. 


Nổi bật nhất là sự xuất hiện của các lăng mộ tập thể nằm ở phía tây và ngoài vành đai của đô thị Palmyre. Truyền thống xây lăng mộ tập thể không có trong nền văn minh La Mã mà chủ yếu phổ biến ở Trung Đông. Tại khu vực này, các lăng mộ được xây theo hình thù các tháp cao. 


Mỗi một tháp tương đương với kiểu mộ tổ ở nhà mình, tức là nơi mà một đại gia đình cùng chôn cất tất cả các thành viên ở dưới. Tất nhiên, chỉ có những gia đình giàu có trong xã hội Palmyre thì mới có đủ kinh tế để cho xây những công trình kiến trúc xa hoa như vậy. Phía bên trong, có thể dễ dàng nhận ra tầm ảnh hưởng của nét kiến trúc Hy-Mã với sự xuất hiện của các cột chống và trần nhà chia theo ô kẻ. Theo các nhà khảo cổ, có khoảng 400 tháp lăng mộ được xây dựng vào thời kỳ phồn thịnh của Palmyre nhưng chỉ còn sót lại khoảng hơn chục cái. 


Những phế tích còn sót lại của Palmyre cũng cho phép các chuyên gia phỏng đoán được cách tổ chức quản lý xã hội của thành phố trong thời kỳ tồn tại của đế chế La Mã. Palmyre có vẻ như áp dụng gần như 100% mô hình Hy Lạp với đứng đầu là một dạng chính phủ chia làm hai phần : boulè(đảm nhiệm bởi địa chủ) và demos (đảm nhiệm bởi dân chúng). Nó cũng là mô hình tiền thân của thượng nghị viện và hạ nghị viện mà phần lớn các quốc gia theo chế độ dân quyền áp dụng ngày nay. Song song với chính phủ, Palmyre còn có tập hợp các thầy tu đảm nhiệm trọng trách tổ chức các buổi cúng lễ thần thánh, rất quan trọng trong đời sống của các xã hội thời cổ đại. Ai đã từng xem phim xác ướp Ai Cập thì đều biết quyền lực của các thầy tu Imhotep lớn như thế nào.    

đên thờ thần Bel, được cho như thần tối cao của palmyre
 Về tầm quan của Palmyre trong mạng lưới trao đổi thương mại, không có gì phải nghi ngờ về việc đây là kinh đô thương mại đường bộ của Trung Đông trong khoảng thế kỷ I đến thế kỷ III sau công nguyên. Các đoàn caravan bằng lạc đà (phương tiện vận chuyển chủ yếu trong sa mạc) đến từ thảo nguyên Trung Á xa xôi đến Palmyre rồi từ đây đi tiếp đến các lưu vực thuộc nước Iran/ Irắc ngày nay và từ đó áp sắt vịnh Ba Tư để chuyển hàng lên tàu đi tiếp đến Ấn Độ hoặc bờ đông của Châu Phi. 

những nét điêu khắc hình lạc đà cho phép các chuyên gia phỏng đoán về quá khứ của Palmyre như kinh đô của thương mại đường bộ
 Tất cả các tập đoàn caravan đều đổ về tập trung tại một quảng trường trung tâm của Palmyre mà các chuyên gia đặt cho cái tên agora. Để dễ mường tượng, tôi lấy chợ đồng xuân của Hà Nội như là một phiên bản bêta của agora này.  Tất cả các cuộc trao đổi hàng hóa đều được diễn ra ở đây và Palmyre trục lợi ở giữa, đánh thuế « hải quan » rất nặng trên tất cả các mặt hàng. Nhưng tại sao những đoàn caravan tứ xứ vẫn phải bấm bụng trả thuế mà không dám ngo ngoe phản đối ? Bởi vì chỉ người dân Palmyre và những bộ tộc du mục trong vùng mới biết đường đi và duy nhất họ mới đủ khả năng tháp tùng đoàn caravan đến nơi giao hàng. Thuế trên các mặt hàng dùng để chi trả cho « dịch vụ » đó. Hàng từ Địa Trung Hải (ôliu, rượu vang, ngũ cốc) hay giấy papyrus, vàng, đá quý từ Bắc Phi được đưa đến đây để đổi lại tơ lụa (Trung Quốc), gia vị (Ấn Độ) hay nước hoa (Ảrập Xê út, Oman). Cái này làm tôi nhớ đến trò chơi điện tử Age of Empire hồi cấp ba.  

xưa kia lạc đà là phương tiện vận chuyển hàng hóa, còn ngày nay nó là một công cụ kiếm tiền. Chụp ảnh cùng lạc đà của Palmyre, 5usd/bức.
Vậy bằng cách nào để các chuyên gia có thể phỏng đoán được những chi tiết đó ? Tất nhiên là dựa vào những nét điêu khắc trên bề mặt cột đá hay bờ tường của các tòa nhà hay các lăng tẩm. Họ thấy hình ảnh các gia đình giàu có Palmyre mặc những trang phục được cho là xa xỉ với đầy ngọc trai (có thể là từ Ấn Độ) rồi thì trong các lăng mộ họ tìm thấy rải rác các mảnh tơ lụa còn sót lại thậm chí còn được dệt hình rồng (có thể là từ Trung Quốc xa xôi).    

những họa tiết trang trí trên bề mặt tường lăng mộ của các gia đình giàu có miêu tả khá chi tiết về phong cách ăn mặc của người dân Palmyre và qua đó biết được những mặt hàng xa xỉ họ mặc trên người cũng như nguồn gốc của nó
Hùng mạnh về kinh tế, tinh hoa về quy hoạch đô thị, bài bản về tổ chức xã hội, vậy về quân sự thì sao ? Do trao đổi thương mại bằng đường bộ là nguồn tài chính duy nhất của Palmyre nên việc xây dựng quân đội để bảo vệ các phái đoàn caravan là điều tối quan trọng. Do Palmyre còn năm dưới sự quản lý của người La Mã nên luôn có những trại lính gác xung quanh vành đai thành phố. Ngoài ra, các bộ tộc du mục hay nông dân cũng tham gia tích cực vào hệ thống phòng thủ. Họ thường cưỡi lạc đà để đánh nhau và vũ khí thường dùng là giáo hoặc cung tên. 

các hiện vật được trưng bày trong một khu bảo tàng tại Palmyre cho phép ta mường tượng kiểu ăn mặc quân sự La Mã tại Trung Đông
 Tuy không được đào tạo chính quy như quân đội La Mã nhưng họ cũng rất giỏi trong lĩnh vực giáp chiến và họ ngày càng nắm giữ vị trí quan trọng trong chiến lược quân sự La Mã sau này. Thật vậy, từ thế kỷ thứ  III sau công nguyên thì đế chế La Mã bắt đầu cho thấy dấu hiệu của sự suy yếu vì phải quản lỷ cả một lãnh thổ quá rộng lớn trong khi quân thì không đủ. Vì Palmyre nằm ngay vành đai biên giới của đế chế, nhu cầu tuyển quân ngày càng lớn và người La Mã buộc phải tuyển và đào tạo các bộ tộc du mục địa phương. Đó cũng là lần đâu tiên trong lịch sử quân sự La Mã, người ta sử dụng những chiến binh không mang dòng máu Roma với những công cụ chiến tranh hoàn toàn địa phương (kỵ binh sử dụng lạc đà chứ không phải ngựa). 

Pháo đài từ phía xa do người ảrập xây để làm chốt chặn bảo vệ Palmyre
Viết dài dòng văn tự đến bây giờ, mãi vẫn chỉ nói đến đế chế La Mã. Vậy thì ta đổi chủ đề nhé. Chắc các bạn đã biết, nước Syria ngày nay là một quốc gia Hồi Giáo. Và nguồn gốc của nói bắt nguồn từ thế kỷ thứ VII sau công nguyên, tức là chỉ 200 năm sau khi đế chế La Mã sụp đổ. Sau cái chết của thánh Mohamed, các hậu duệ của ông nhận được sứ mệnh phải truyền bá đạo Hồi và quân đội của họ tấn công và đô hộ tất cả các lãnh thổ lân cận trong đó có Palmyre. 


Ảnh hưởng hồi giáo cũng có thể thấy khá rõ ở Palmyre, trên nền tảng La Mã đã có sẵn. Cũng như tất cả các đô thị dưới quyền của người Ảrập, trung tâm Palmyre được bổ sung một khu chợ giời, hay còn gọi là souk. Các bài viết của  tôi về Marốc hay Ai Cập đều đã để cập đế từ này và chắc chắn tôi sẽ viết thêm một bài tổng hợp về nét văn hóa truyền thống đó. Bây giờ chúng ta hãy quay lại Palmyre dưới quyền cai trị của những người Ảrập.   


Với sự tại vị của dòng họ Omeyyade bắt đầu từ thế kỷ VIII sau công nguyên, một số cung điện xa hoa được xây dựng xung quanh Palmyre ví dụ như cung Hisham (Qasr el Heyr el Gharbi) . Rồi đến thế kỷ XVI, người ảrập cho xây pháo đài Qalat Ibn Maan tọa lạc trên một ngọn đồi phía tây Palmyre.  Nhưng có thể thấy một điều là dưới sự cai trị của các thế lực ảrập, Palmyre không bao giờ tìm lại được ánh hào quang của một kinh đô thương mại như thời La Mã nữa.