Wednesday, July 25, 2012

Fès - Athens của Châu Phi



Đối với người Marốc, thành phố Fès thời trung cổ cũng giống như thành phố Athens của Châu Âu vậy. Nằm ở một vị trí chiến lược, nút thắt giữa các quốc gia Bắc Phi và Nam Âu, Fès là mắt xích quan trọng trong hệ thống thương mại giữa vùng sa mạc Sahara rộng lớn phía nam và Châu Âu phía Bắc. Nhờ thế, nền kinh tế của Fès phát triển thịnh vượng trong vòng hai thế kỷ và trở thành trung tâm tôn giáo cũng như nghệ thuật của Bắc Phi.


Lịch sử của Fès gắn liền với lịch sử phát triển của Hồi giáo. Khi nào có điều kiện, tôi sẽ viết một bài giải thích khái quát quá trình truyền bá của tôn giáo này. Còn tạm thời, ta hãy quay về thế kỷ VII, nguồn gốc của nước Marốc và của Fès. Thời điểm ấy, một hậu duệ của Mohamed (Mohamed tương đương kiểu chúa jesus của đạo thiên chúa) trốn chạy khỏi sự truy đuổi của Irắc, chạy qua Ai Cập rồi rong ruổi suôt Bắc Phi cho đến khi đặt chân đến đất nước Marốc. Tại đây, vị hậu duệ này được những bộ tộc du mục địa phương giúp đỡ và bầu ông ta làm vua nước Marốc. Thành phố Fès được sinh ra như là thủ đô đầu tiên của Marốc. Cũng giống như Việt Nam, các triều đại vua chúa của Marốc đổi thủ đô nhiều lần và Fès là một trong bốn cố đô mà vua Marốc tại vị xưa kia.


Cũng như các du khách đến đây, tôi bắt đầu cuộc khám phá Fès từ khu phố cổ, người Marốc gọi là Medina. Khu vực này khiến tôi liên tưởng đến khu phố cổ của Hà Nội vì có nhiều điểm tương đồng. Hà Nội có 36 phố phường thì ở đây có các khu phố nhỏ phân theo ngành nghề và sản phẩm thủ công : nghề mộc, nghề điêu khắc trên gỗ, nghề rèn sắt, nghề trạm khắc trên đồng, kim hoàn, dệt lụa…Hầu hết  các sản phẩm đều được tạo ra trong những lò sản xuất bé tí hin với những công cụ cũ kỹ.




Khu chuyên làm vải. Tại đây, người ta sử dụng các loại phẩm để nhuộm cho vải
Một điểm nổi bật nhất của Fès mà tôi thấy được, đó là sự nổi trội về nét kiến trúc của các trường học kinh coran, người Marốc gọi là Medersa. Cấu trúc của các công trình kiến trúc này khá đồng bộ, thường có một sảnh to làm bộ sườn chính rồi xung quanh sảnh này được bao kín bởi 4 bề mặt là những ngôi nhà hai tầng.
Nếu như đạo Phật chúng ta có nhiều cùa chiền thì một thành phố Marốc cũng sở hữu nhiều nhà thờ Hồi giáo. Bản thân Fès trước kia là kinh đô Hồi giáo của cả nước Ma rốc và miền tây Châu Phi. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi thành phố này có hơn 10 nhà thờ và nổi tiếng nhất là nhà thờ hồi giáo Al Qarawiyyin kiêm luôn là trường đại học nghiên cứu đạo Hồi. Đây được coi như trường đại học Hồi giáo cổ nhất thế giới (xây vào năm 857), thậm chí còn trước cả đại học Oxford.

Các mái ngói màu xanh lá cây là đặc trưng của lối kiến trúc Hồi giáo Marốc. Nhìn từ trên cao, nó đôi khi làm tôi liên tưởng đến mái ngói kiểu Châu Á ở Trung Quốc hay hàn Quốc
Giữa sảnh một nhà thờ hồi giáo bao giờ cũng có một tháp nước để người sùng đạo rửa ráy trước khi cầu nguyện
trên bề mặt tường, các nét trạm khắc trên đá rất tinh tế. Như các bạn thấy, kiểu hoa hoét rất phổ biến trong nghệ thuật ả rập.

Bao bọc xung quanh khu phố cổ Fès là một hệ thống tường thành và có khoảng 9 cổng vào. Đặc thù của các cổng này là có kích cỡ rất to và được xây bằng đất sét nung pha với rơm và bằng gạch nung. Cổng vào thì có hình giống vó ngựa mà hội tội nhân hay đứng ở tòa án hình sự.

 
Vào thời gian đầu, hệ thống tường thành bao bọc có chức năng phòng thủ cho khu phố cổ nên được xây dựng rất kiên cố. Nhưng vào thế kỷ 16 khi mà súng thần công phát triển lên cũng như với việc thành phố Fès phát triển ra rộng hơn, các tường thành và cổng vào này không còn chức năng phòng thủ nữa. Vì thế, các cổng vào được bổ sung thêm các họa tiết kiến trúc sành điệu hơn, với mục đích khoa trương thế mạnh nghệ thuật của Fès.


Sau khi qua ngưỡng cửa của các cổng thành này, dòng người địa phương tràn về các ngả khác nhau hướng đến các khu chợ giời, người Marốc gọi là souk.


 Lạc vào những khu chợ này, ta có cảm giác như lạc vào mê cung những nẻo đường nhỏ với các gian hàng bán đủ các loại tạp phẩm. Cấu trúc của chúng hầu như không có gì thay đổi từ thế kỷ XII. Chính tại các souk này mà tôi thấy có gì đó rất giống khu phố cổ Hà Nội, rất sầm uất về thương mại. Mỗi souk tương đương với một trong 36 phố cổ của mình.  Họ có souk El Nejjarine chuyên bán đồ gỗ, El Attarin chuyên bán các loại gia vị, El Seffarine, chuyên đồ đồng, Ain Allou chuyên đồ da thuộc…   


Chính vì hệ thống chằng chịt các nẻo đường như mê cung này mà du khách rất dễ bị lạc. Nhưng lạ thay việc chủ động để bị lạc chính là trải nghiệm đáng giá nhất khi ta viếng thăm các khu chợ souk. Ở đây, việc dùng bản đồ chẳng có lợi ích gì hết vì thứ nhất đường phố ngoằn ngoèo khó vẽ,thứ hai tên các đường đều ghi bằng tiếng ảrập. Vì thế, cách tốt nhất là nên quan sát cử chỉ hành đông cũng như hướng đi của dòng người đặc biệt là các nhóm khách du lịch. Thật vậy, khách du lịch gì thì cũng giống mình thôi, họ cũng sẽ bị lạc như mình. Nhưng họ đôi khi là các nhóm khách đi theo tour nên sẽ được trợ giúp bởi một hướng dẫn viên địa phương. Đến một lúc nào đó, kiểu gì thì họ cũng sẽ đi về hướng các cổng thành để thoát khỏi khu phố cổ. Và khi đã thoát khỏi khu phố cổ thì mọi chuyện trở lên dễ dàng hơn vì các con đường mới đều dưới dạng đại lộ thẳng. Đó là phương pháp thứ nhất.

Phương pháp thứ hai, chiêu bài mà tôi sử dụng nhiều hơn, đó là trực tiếp hỏi đường người địa phương. Và chính trong một lần bắt chuyện với một người bán đồ xà phòng thơm mà tôi đã có được một kỷ niệm đáng nhớ. Ngoài tiếng ảrập, người Ma rốc nói tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ vì họ được học song ngữ ngay từ bé . Một du khách người Châu Á đến Fès và nói tiếng Pháp không phải là chuyện thường ngày và tất nhiền sự hiên diện của tôi thu hút sự chú ý của hầu hết người dân địa phương. Tôi cũng chỉ hỏi đường ông bán xà phòng có tên là Mohamed (tên này thì phổ biến phải biết cũng giống như họ Nguyễn nhà mình). Ông ta hỏi tôi câu hỏi  mà tôi đã dự đoán trước


- « Il y a des groupes japonais mais c’est la première fois que je croise un Vietnamien dans ma vie. » (đã từng có các nhóm du khách Nhật Bản đến đây nhưng đây là lần đầu tiên trong đời tôi gặp một người Việt Nam)

- « Tu sais, mon oncle était légionnaire pendant la guerre d’Indochine » (cậu biết không, bác tôi xưa kia là lính lê dương trong quân đội Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương ở Việt Nam)

Tôi thực sự ngạc nhiên khi được biết rằng có khoảng 6000 lính Marốc tham gia cuộc chiến năm 1954 ở miền Bắc và một số lính trong số đó đã chuyển sang ủng hộ quân đội Việt Minh chống lại giặc Pháp. Ngay sau chuyến viếng thăm Marốc đó, tôi đã tìm hiểu sâu thêm và được biết một số lính Marốc đã ở lại Việt Nam trong vòng vài chục năm, lấy vợ Việt Nam và phải vất vả lắm họ mới trở về quê hương, với sự giúp đỡ của bác Hồ. Để cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của người Việt, những người lính này đã tham gia vào việc xây lên một chiếc cổng theo lối kiến trúc Marốc ngay tại Ba Vì, nay vẫn tồn tại và bị rong rêu bám đầy.  Chiếc cổng đó như để chứng mình tình hữu nghị cùa lính lê dương Marốc đối với sự tốt bụng của người Việt. Có thế mới biết sử sách nước ta còn thiếu hụt như thế nào. Một người con của quê hương như tôi buộc phải tìm hiểu sử sách bằng tiếng nước ngoài, viết bằng người nước ngoài để hiểu rõ hơn lịch sử của chính nước mình !



Thôi, nói lịch sử hơi nhiều, giờ mình lại quay lại các khu chợ giời souk. Tại đây, phương tiện gắn máy không được phép hoạt động. Cũng phải thôi, nhìn những dòng người đông như thể đang mua vé vào xem trận chung kết Champions League, tôi thiết nghĩ một cong đường rộng có hơn một mét mà để một chiếc xe thồ đi qua thì không biết đến bao giờ mới thoát được ách tắc giao thông. Không có tiếng động cơ chạy không có nghĩa là nơi đây không ồn ào sôi động. Hãy cứ thử nghĩ đến những cuộc mặc cả nóng bỏng giữa kẻ mua người bán là biết liền. Tại đây, tôi nghĩ thứ gây ách tắc giao thông nhiều nhất là…con lừa. Đây là phương tiện chở hàng phổ biến nhất của người dân địa phương .


Như những người đi buôn sừng sỏ, người dân địa phương phân biệt rất rõ đâu là những vị khách du lịch ngây thơ dễ bị dắt mũi để chào mời họ. Và với một ngoại hình đậm chất Châu Á như tôi thì việc được họ « mời » vào xem hàng chẳng có gì là lạ. Biết rằng khi bước qua ngưỡng cửa của những cửa hàng trưng bày thảm, đồ vàng bạc thì sẽ khó có thể tránh khỏi những lời chào hàng ngọt như mật. Nhưng tôi coi đó như một dịp để ngắm nghía thỏa thích những đồ vật được trạm khắc rất tinh xảo. Cho dù biết rằng khi ra khỏi một cửa hàng bát đĩa bạc, tôi đã bị người ta « chăn » mất 20$ nhưng đó hoàn toàn là tự nguyện của tôi. Bạn hãy tưởng tượng thành phố Fès vào dịp hạ điểm du lịch thì người ta lấy đâu ra khách mà chăn. Thêm nữa, 20$ có thể là khá to đối với tôi, nhưng là rất rất to với những gia đình ở đây.


Để quản lý một cách quy củ hơn hệ thống thương mại của các khu chợ souk, người ta cho xây các fondouks, tạm dịch là trụ sở hiệp hội chuyên về một ngành nghề nào đó. Cấu trúc của các fondouk này khá đồng bộ, luôn có một sảnh rộng nằm ngày chính giữa. Xung quanh là các hành lang với các gian phòng dùng để làm nơi ở cho các thương gia và kho chứa hàng.

Wednesday, July 18, 2012

Đôi lời về nước Ý


Ngoài nước Pháp, quốc gia mà tôi coi như quê hương thứ 2, thì Ý chắc chắn là quốc gia tôi coi như …quê hương thứ 3. Tôi luôn có một cảm giác khó xử mỗi khi người ta hỏi câu « giữa Pháp và Ý bạn thích quốc gia nào hơn ». Thật khó trả lời vì cả hai đều là những điểm đến hàng đầu thế giới với 2 trường phái khác nhau. Nó cũng giống như phải so sánh giữa vẻ đẹp của hai người phụ nữ đẹp nghiêng nước nghiêng thành, giữa Monica Bellucci và Sophie Marceau. Tôi mê cả hai và tôi còn nhớ mãi cái thời điểm chọn quốc gia để đi du học. Tôi rất muốn theo học ngành kiến trúc và oái oăm thay cả Pháp và Ý đều là sự lựa chọn thích hợp. Phải đấu tranh lắm tôi mới chọn được người đẹp của mình : Pháp. Thế nhưng trong 8 năm du học bên Pháp, tôi vẫn không khỏi nghĩ đết đất nước hình chiếc ủng. Làm sao để có thể sở hữu được cả hai người đẹp đây ? Và thế là tôi chọn một phương án : vẫn sống một cuộc sống bình thường bên Pháp và dành thật nhiều thời gian rỗi để đến viếng thăm nước Ý láng giềng.

Tôi đi du lịch sang Ý nhiều lần lắm. Tôi cũng đã thăm khoảng 50%, cũng có thể coi là kha khá với một du khách. Nhưng cái chính tôi nói ở đây không phải là số lượng mà là chất lượng. 50% không chỉ hiển thị bằng số lượng điểm đến tôi đã từng thăm mà còn là hiểu biết của tôi về quốc gia này : ngôn ngữ (tôi tự học tiếng Ý), lịch sử, ẩm thực, chính trị, âm nhạc… Và còn một điều nữa khiến tôi có một cảm giác đặc biệt mỗi khi nhắc đến quốc gia này…dù gì thì bạn gái cũ của tôi cũng là người Ý (gốc vùng Napoli). Sara di Santo, một cô gái với vẻ đẹp đặc trưng Ý, tóc đen nước da nâu và mắt xanh da trời. Tôi đã không ít lân đến thăm gia đình cô ta và tìm hiểu được rất nhiều điều thú vị về người Ý , những người sùng đạo, yêu bóng đá, sành điệu

Tôi không muốn đếm số lần mà tôi quay lại Ý vì nó quá nhiều . Cái mà tôi muốn ở đây là để chia sẻ với các bạn tình yêu của tôi với xứ sở mỳ ống.

Tuesday, July 17, 2012

Gondola - biểu tượng của Venise


Đâu là biểu tượng của Venise ? Hiển nhiên là các con đò mang tên gondola rồi. Khi các bạn đến thành phố này chắc chắn sẽ nhìn thấy những con đò dài màu đen với thân hình uốn lượn. 


 Để có được dáng vẻ ngày hôm nay, gondola đã trải qua vài trăm năm tiến hóa và lịch sử của nó gắn liền với lịch sử của thành phố Venise. Theo sổ sách ghi lại, cái tên gondola được nhắc đến lần đầu tiên vào thế kỷ 11. Tuy nhiên, không có bất cứ tài liệu nào ghi chép lại dáng vẻ thủy tổ của nó. Phải đợi đến thế kỷ 16, với sự xuất hiện của những bức vẽ phác thảo sơ bộ bằng bút chì thì người ta mới có những dáng vẻ cụ thể, cho phép các nhà sử học có thể mường tượng ra hình thù của nó cách đây 400 năm như thế nào. Kết quả ? Dáng vẻ hồi ấy rất khác bây giờ, duy chỉ có màu đen của thân đò là không thay đổi. Gondola thời bấy giờ trông chẳng khác gì một con tàu chở hàng tầm thường. 


 Phải đợi đến thế kỷ 17, dáng vẻ của nó mới tiến hóa hơn và khá giống bây giờ, do gondola chuyển hóa thành loại thuyền cao cấp, chuyên chỉ chở người thuộc dòng quý tộc. Các gia đình giàu có của Venise vì mắc bệnh sĩ diện nên đầu tư rất nhiều tiền bạc vào việc trang trí gondola của mình thật đẹp để làm sao thể hiện sự giàu có hơn những gia đình đối thủ. Sự leo thang về mức độ xa xỉ của các gondola khiến cho chính phủ vương quốc Venise chướng tai gai mắt và quyết định đưa ra điều luật đồng phục hóa tất cả các gondola và người lái chèo. Kể từ đó, màu đen của thân thuyền trở thành màu duy nhất áp dụng cho gondola. 


Công nghệ đóng  gondola không có nhiều thay đổi từ thế kỷ 15 . Phải mất khoảng 3 tháng để lắp ráp 280 mảnh phụ tùng để tạo ra một gondola hoàn chỉnh. Ngày nay, giá thành một gondola thậm chí còn đắt hơn một chiếc ferrari nên tất cả các gondola chạy ở Venise đều là dạng cho thuê. Vào dịp cao điểm, các tay chèo lái đầu tư rất nhiều thời gian vào việc bảo quản gondola của họ. Cũng phải thôi, họ cũng phải thuê chạy gondola giống thuê lái xe taxi. Nhỡ xước một cái thì vỡ mồm. Sau khi hết dịp cao điểm rồi thì các gondola được đưa trở về xưởng sản xuất để được đại trùng tu.


 Xưa kia, gondola chỉ dành cho giới quý tộc Venise. Còn ngày nay, 100%  gondola dành cho khách du lịch. Và giá thì cao ngất ngưởng : 80 euros cho 40mn. Các tạp chí du và cẩm nang du lịch hay khuyến khích du khách khám phá Venise bằng gondola với lý do là họ có thể đi qua những điểm mà người đi bộ không thế nhìn thấy được. Có thể đó là sự thực nhưng tôi tự hỏi liệu với khoảng chi 1 tiếng ngồi trên cái thuyền bé tí tẹo đó thì làm sao mà xem đủ. Đã thế, ngồi trên thuyền chỉ toàn du khách nước ngoài ngồi với nhau nên tôi không thích.  Đấy là còn chưa tính đến thời gian bạn phải xếp hàng để chờ một chiếc gondola, đặc biệt là vào dịp cao điểm. Việc đứng vêu trong vòng 30mn trở lên là điều thường xuyên xảy ra. Nhưng mà thôi, tôi cũng đi một lần cho biết. 


 Tôi nhận thấy rằng thời điểm đi gondola tốt nhất là vào buổi sáng sớm. Lúc ấy, bọn khách du lịch lười biếng còn đang ngủ hoặc đang ăn sáng nên đường xá ở Venise rất vắng và chắc chắn là các gondola cũng ngồi vêu chờ khách. Vì thế, khả năng mặc cả down giá rất lớn.  Còn nếu chẳng may dùng gondola sau 9h sáng thì thôi rồi, đúng là cực hình. Nó cũng giống như việc bọn Tây ba lô đi xích lô ở Hà Nội lúc giờ cao điểm vậy. 


 Dù sao thì cái lần mà tôi đi cũng khá là thú vị. Các tay lái thuyền gondola luôn chủ ý hát các bài hát dân ca Ý để tôn cái vẻ truyền thống cũng như trải nghiệm của du khách trong 40 phút. Trong chuyến thuyền mà tôi đi có 4 du khách khác nữa (Anh, Pháp, Mỹ), nhưng tôi là người duy nhất biết tiếng Ý và biết hát phần lớn các bài hát dân ca họ hát. Và thế là thỉnh thoảng tôi lại nhập bọn, cùng hát với họ. Tôi còn nhớ mãi thời điểm hát bài ca bất hủ Volare của Domenico Modugno.  Cả 4 vị khách kia trố mắt nhìn tôi còn đồng chí người Ý thì ngạc nhiên hỏi tôi : « Come mai conosci questa canzone ? » (làm sao cậu biết bài hát này ?). 


 Câu hỏi này chính là khơi nguồn cho một cuộc nói chuyện sâu hơn, liên quan đến cuộc sống của người làm nghề lái thuyền gondola. Ngày nay, làm nghề này thật chẳng sung sướng gì. Khi mà tiền thuê gondola rất đắt, các tay lái tranh nhau khách. Có vẻ như những người làm nghề này không còn nguyên chất như xưa nữa. Theo lời kể của Gian Carlo (anh lái gondola mà tôi ngồi), ngày xưa người lái đò gondola thực sự yêu mến Venise và họ làm nghề lái đò vừa để kiếm tiền, vừa để chia sẻ tình yêu của họ với du khách. Ngày nay, sự thực dụng đã tăng lên. Họ làm nghề này chỉ để kiếm tiền mà thôi. Và tất nhiên là họ càng chăn được nhiều du khách gà mờ bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu.

Friday, July 13, 2012

Venise - thành phố của tình yêu


Có bao nhiêu người Việt đã từng đặt chân đến thành phố Venise ? Nhiều đấy. Nhưng bao nhiêu người trong số đó ở lại Venise hơn 3 ngày và rồi quay trở lại đó hơn 2 lần ? Không nhiều đâu và chắc cũng phải bị « thành phố tình yêu » này mê hoặc thế nào đấy thì người ta mới làm như vậy. Và tôi không may mắn là một nạn nhân kiểu đó. 

Venise với hệ thông kênh đào chằng chịt đã trở thành chuẩn mực của kiểu kiến trúc đô thị trên nước. Chính vì thế mà rất nhiều nơi có kiểu nhà tương tự trên thế giới đều lấy Venise làm thước đo, nào là « Venise phương bắc » hay là « Venise phương đông ». Theo tôi được biết thì có khoảng hơn 10 thành phố trên thế giới được ví với Venise. Tôi cũng thăm được vài cái : Stockholm (Thụy Điển), Bruges (Bỉ), Amsterdam (Hà Lan), Colmar (Pháp) và Aveiro (Bồ Đào Nha). Nghe nói còn có cả Saint Petersburg (Nga), Hàng Châu và Đại Lý (Trung Quốc). Chắc tôi cũng phải đến đó một chuyến. 

Vì Venise là điểm du lịch thuộc hạng khủng nên có đến hàng triệu lượt khách một năm. Mỗi lần tôi quay trở lại đều phải tránh giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 10. Tôi đặc biệt chọn tháng 3, vừa ít người hơn và khí hậu cũng đẹp hơn. Ngoài ra, cũng phải đề cập đến hiện tượng thủy triều rất đặc trưng (từ tháng 10 đến tháng 2), dấn đến tình trạng nước ngập tràn khắp thành phố. 


 Tại sao người ta lại xây cả một thành phố trên một các hòn đảo cách xa đất liền hơn 2km ? Có lẽ phải tìm nguyên nhân ở thời kỳ Trung Cổ vào thế kỷ thứ 6 sau công nguyên. Thời ấy, Châu Âu có nhiều biến động với rất nhiều cuộc chiến tranh cướp bóc giữa các dân tộc trên đất Ý bây giờ. Các bộ tộc xuất xứ từ nước Đức liên tục xâm chiếm miền Bắc Ý khiến cho người dân địa phương phải di tản ra ngoài biển khơi và xây những ngôi nhà đầu tiên trên các hòn đảo nhỏ cách xa đất liền và dễ phòng thủ (các bộ tộc gốc Đức bơi rất kém). 


 Theo dòng thời gian, cư dân nơi đây dựa vào thế mạnh hàng hải để phát triển thương mại đường biển và ngay từ thế kỷ thứ 10, Venise đã trở thành một cường quốc kinh tế trong khu vực Địa Trung Hải. Vị thế độc tôn của thành phố thực sự được khẳng định khi Venise cho vay nặng lãi các đội quân Châu Âu đang cần tiền để trang trải các cuộc chiến tranh vô bổ ở Trung Đông (các cuộc thập tự chinh).  Chính trong thời kỳ này, đã xuất hiện các gia đình quý tộc lắm tiền và họ đã cho xây nên các cung điện nguy nga ngày nay. 

 « Cổng vào » chính thức của Venise có lẽ là nhà ga xe lửa Santa Lucia và cũng là nơi tôi chọn làm điểm xuất phát để khám phá thành phố bằng cách đi bộ. Và tôi nghĩ để có thể khám phá được hết vẻ đẹp tiềm ẩn của những con đường nhỏ, chỉ có đi bộ mới là phương pháp tốt nhất. Nhưng tất nhiên là bạn phải có đôi chân khỏe mạnh vì giao thông công cộng ở đây 100% là bằng thuyền hoặc canô chứ không phải là xe bus hay xe đạp hay ôtô. Thành phố Venise thức ra không lớn. Nếu mà đi thẳng một lèo từ bắc xuống nam theo đường chim bay thì chỉ mất có 40 phút . Nhưng trên thực tế, hệ thống cầu bắc ngang, các kênh ngạch chặn qua và đám người du lịch tứ xứ khiến cho bạn gặp rất nhiều trở ngại trong việc đi lại. Nhưng mà đến Venise thì chẳng ai lại chỉ phăm phăm đi từ bắc xuống nam. Cái hay ở đây là phải biết dành thời gian mạo hiểm khám phá các khu nhà. Chấp nhận bị lạc là chìa khóa duy nhất giúp bạn tận hưởng vẻ đẹp của Venise  .

Cũng như đa phần du khách đi bộ, tôi chọn giải pháp đi dọc theo đại lộ chính của Venise, là một con kênh lớn có tên là Grand Canal. Bất cứ ai đến đây đều phải ngỡ mình trước vẻ đẹp có một không hai của con sông Grand Canal mà người Venise vẫn trìu mến gọi là canalazzo


 Nhìn thì rõ ràng là sông nhưng Grand Canal đóng vai trò như đại lộ, là trục chính xẻ dọc thành phố Venise làm 2 phần và đi uốn éo như hình con rắn. Dọc theo « đại lộ » không biết bao nhiêu tàu bè đi lại trong một ngày và với những vị khách du lịch vội vàng, họ thường dùng một chuyến tàu phà đi dọc Grand Canal để ngắm nhìn những công trình kiến trúc dọc theo ven sông. 


Còn với tôi, tôi lại thích đi bộ để có thể luồn lách vào nhưng xóm ngõ cổ và khám phá cuộc sống đời thường của người dân Ý. Với lợi thế nói thông thạo tiếng Ý, tôi rất thích bắt chuyện với người dân địa phương, nhiều khi thu thập được rất nhiều thông tin bổ ích. Chẳng mấy khi người ta có dịp bắt gặp một du khách Châu Á nói được thứ tiếng của họ và họ thường rất ngạc nhiên. Câu hỏi mà họ đặt ra cho tôi : 
« Ma di dove sei ? » (cậu từ đâu đến ?)
« Sono di Vietnam » (tôi đến từ Việt Nam)
ma come mai parli l’Italiano benissimo? » (làm sao mà cậu có thể nói tiếng Ý tốt vậy ?)
perché viaggio spesso in Italia” (bởi vì tôi hay đi du lịch sang Ý)
« Perché l’Italia ? » (tại sao lại là nước Ý ?)
« perché mi piacciono ragazze italiane ! » (bởi vì tôi mê phụ nữ Ý !) Tất nhiên rồi, nói tiếng Ý để tán gái Ý.Quá tuyệt !!!!!


 Dọc theo Grand Canal là những tòa nhà tráng lệ nhất của thành phố, xưa kia là nơi ở của các gia đình quý tộc giàu lên nhờ thương mại. Và ngày nay, rất nhiều tòa nhà được trung tu và chuyển thành khách sạn cao cấp. Cửa vào của các tòa nhà này xưa kia là nơi người ta đưa hàng hóa vào trong tầng một vốn là kho chứa hàng. Venise thời ấy được coi như « đại lý » bán buôn các mặt hàng cao cấp giữa Trung Đông và Châu Âu. Lúa mì, rượu vang, vải len, đồ dệt, dầu ô-liu, muối của Châu Âu được chất đầy lên thuyền chở hàng để rồi vận chuyển đến Ai Cập để đổi lấy gia vị, ngà voi, gỗ mun, tơ lụa, nô lệ…Thật không may mắn là những công trình kiến trúc cổ này đang phải đối mặt với nguy cơ bị sói mòn cột móng do có quá nhiều tàu đi lại trên sông. Các làn sóng do tàu máy tạo ra tạo một áp lực nhất định đập vào tường nhà và làm rơi vãi lớp bả. 

 Fondaco dei Turchi, tạm dịch là kho chứa hàng của người Thổ Nhĩ Kỳ.Xưa kia, đầy là nơi chứa hàng hóa trao đổi với đế chế Ottoman 

 Ca’Pesaro được xây dựng vào thế kỷ 18 theo dòng kiến trúc barốc, tường được làm 100% bằng đá cẩm thạch trắng. Ngày nay, tòa nhà trở thành viện bảo tàng mỹ thuật. 

Palazzo Barbarigo được xây vào thế kỷ 16 theo dòng kiến trúc phục hưng. Xưa kia chủ là một doanh nhân sản xuất cửa kính. Ngày nay, một phần được chuyển thành khách sạn cao cấp. 


Để có thể di chuyển giữa hai bên bờ sông Grand Canal, có một vài cây cầu bắc qua mà nổi tiếng nhất trong số đó là cầu Ponte Rialto.  Mới chỉ cách đây hơn một thế kỷ, Venise không có nhiều con cầu bắc qua Grand Canal và Ponte Rialto là cây cầu duy nhất. 


Vào thời trung cổ, Ponte Rialto chính là đầu não kinh tế của Venise. Thời ấy, không chỉ là nơi tập trung phiên chợ rau cá lớn nhất của Venise, Ponte Rialto còn là nơi tập trung những văn phòng ngân hàng đầu tiên trong lịch sử thế giới. 

Sau khoảng hơn một tiếng đi bộ, tôi tiếp cận quảng trường Saint Marc, trái tim của Venise. Tại sao lại đặt tên quảng trường như vậy ? Bởi vì chính tại đây vào thế kỷ 9 sau công nguyên,  thành phố tổ chức một sự kiện long trọng nhân dịp tìm được hài cốt của thánh Marc tại Bắc Phi và chuyển về Venise. Vậy tại sạo thánh Marc lại quan trọng đến vậy ? Bởi vì ông ta là một trong 12 vị đệ tử đầu tiên của chúa Jesus, được giao trọng trách truyền bá đạo thiên chúa giáo trên khắp vùng Trung Đông và Châu Âu sau khí Jesus qua đời. Quảng trường Saint Marc là một quần thể kiến trúc rất hài hòa bao gồm nhà thờ Saint Marc, tháp chuông campanile và cung điện Palazzo dei Dogi tạm dịch là tòa nhà quốc hội của thành phố Venise. 


Nhân dịp này, tôi cũng muốn giới thiệu đôi chút lịch sử rất đặc biệt của nước Ý nói chung và thành phố Venise nói riêng. Chắc các bạn đều biết, nói đến nước Ý là người ta nói đến đế chế La Mã rộng lớn tồn tại hơn 700 năm. Thế nhưng rất ít người biết rằng quốc gia mang tên Italia với hình chiếc ủng ngày nay lại chỉ được thành lập vào năm..1865. Tại sao vậy ? Bởi vì sau khi đế chế La Mã tan rã, cả một lãnh thổ rộng lớn quanh Địa Trung Hải bị cắt xén thành nhiều vương quốc nhỏ. Và ngay trên lãnh thổ nước Ý ngày này cũng bị chia cắt thành vương quốc hoặc lãnh thổ trực thuộc các cường quốc láng giềng như Pháp, Tây Ban Nha hay Áo. Đến thời điểm đầu thế kỷ 19 thì nước Ý chỉ còn là cái bóng của thời hoàng kim La Mã. Quốc gia này bị chia cắt thành thuộc địa của nhiều cường quốc, một phần thì thuộc về đế chế Pháp của Napoléon, một phần thuộc về đế chế Áo-Hung, một phần do thánh địa Vatican quản lý…


 Phải chờ đến năm 1865 thì người Ý mới đánh đuổi hết giặc ngoại xâm và thống nhất lãnh thổ hình chiếc ủng và thành lập ra một quốc gia hiện đại.Vậy Venise đóng vai trò như thế nào trong lịch sử Ý ? Vào thời trung cổ, trong số các lãnh thổ bị chia cắt sinh ra 4 thành phố đi không theo chế độ vua chúa mà lại theo chế độ cộng hòa. Đó là : Venise, Pisa, Genova và Amalfi. Cả 4 nước cộng hòa này đều rất mạnh về thương mại đường biển nhưng Venise mới là thành phố hùng mạnh nhất , thống trị cả vùng Địa Trung Hải trong vòng vài trăm năm. 

Palazzo dei Dogi - tòa quốc hội của nước cộng hòa Venise xưa kia
 Venise có quốc hội và đứng đầu là các vị Dogi (tương đương với tổng thống). Tòa quốc hội Palazzo dei Dogi là nơi diễn ra các cuộc họp quan trọng và cũng là nơi ở của Dogi. Nước cộng hòa Venise chính thức bị xóa sổ khỏi lịch sử khi Napoléon đến xâm chiếm nước Ý vào cuối thế kỷ 18. Thực ra thì Venise đã suy yếu và sống dặt dẹo ngay từ thế kỷ 17 khi mà không còn làm chủ được kinh tế vùng Địa Trung Hải nữa. Người Tây Ban Nha đã tìm ra tuyến đường thương mại mới dẫn đến Châu Mỹ và đế chế Ottoman khóa chặt Trung Đông, khu vực giao lưu thương mại chủ đạo của Venise. 

  
Sau thi thăm xong trục chính của Venise, tôi bắt tay vào việc khám phá các khu phố, người địa phương gọi là sestieri. Thành phố có tất cả 6 sestieri và muốn đi thật sự kỹ càng cả 6 cái này thì phải mất khoảng 3 ngày trọn vẹn. 


Và để có thể kiên nhẫn đi thăm hết chỗ đó, bản thân bạn phải là một du khách yêu thích khám phá và tìm hiểu văn hóa địa phương. Nếu không thì chắc chắn bạn sẽ thất vọng trước những tòa nhà lụp xụp, không tương xứng với sự tráng lệ hào nhoáng của những cung điện dọc theo Grand Canal hay ở những nơi có nhiều khách du lịch. Nhưng đó mới là cái mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây các bạn ạ. Ý nghĩa của một hành trình đi sang Châu Âu không nên chỉ gói gọn ở việc bao nhiêu ảnh đẹp bạn chụp được. Hãy đi xa hơn thế, hãy tiếp xúc với người dân địa phương đê học được những cái không có trên mạng hay sách báo. 


 Có giao tiếp với người dân ở đây, tôi mới biết được nhiều sự thật đáng buồn. Venise là nạn nhân của chính sự nổi tiếng quá mức của nó. Du khách khắp nơi ùn ùn đến khiến cho giá bất động sản ở đây tăng quá nhanh. Người dân không có đủ tiền để sở hữu cũng như sửa sang lại nhà cửa nên buộc phải di cư đi nơi khác ở. Và hậu quả là sao ? 30% người con sinh ra nơi đây phải dứt áo ra đi. Họ hoặc phải bỏ hoang hoặc bán lại cho người nước ngoài với giá rẻ. Hậu quả là rất nhiều kiến trúc cổ vài trăm năm đang gặp nguy cơ bị xuống cấp và sụp đổ. 

Đi lạc vào một số khu phố cổ, tôi nhiều khi có cảm giác như đang ở một khu ổ chuột, không khác gì khu Long Biên nhà mình. Đã thế, mùi nước sông bốc lên nhiều khi rất giống mùi sông Tô Lịch. Đó là thực thế phũ phàng , mặt trái của một thành phố được cho là « lãng mạn » nhất thế giới.