Sunday, June 24, 2012

trải nghiệm leo núi ở các calanques


Tôi nghĩ chắc nhiều người nghe danh thành phố cảng mác-xây rồi (tiếng pháp viết là Marseilles). Bác Hồ nhà mình đã đặt chân đến đó đầu tiên sau khi đi tàu từ Việt Nam. Ở đây, tôi không nói đến lịch sử và cũng chẳng nói đến Marseilles nhiều. Nói thật nhé, tôi ở Pháp 8 năm rồi, thăm biết bao nhiêu thành phố nên thực sự vẻ đẹp của Marseilles không thể khiến tôi ở lại đó quá 2 ngày. Marseilles thực ra chỉ là một điểm dừng chân tạm thời để tôi khám phá địa danh thiên nhiên khác, rất nổi tiếng trong con mắt dân du lịch bụi Châu Âu nhưng lại vô danh ở Việt Nam : les calanques. Và tất nhiên, phương châm mà tôi đã đặt ra ngay từ đầu khi thành lập blog này là giới thiệu những vẻ đẹp tiềm ẩn không mấy người Việt Nam biết đến. Tôi không muốn những bài viết của mình lại lặp lại so với các bài viết của các phượt tử trên các diễn đàn (phuot.vn , phuot.net, hoi du lich…).

 Vậy calanques là gì ? Đây là một hiện tượng địa chất xảy ra cách đây hàng triệu năm và tạo ra các thung lũng nhỏ áp sát bờ biển, hai bên sườn thung lũng rất sâu,hẹp và dốc. Về mặt hình dạng bề ngoài thì các calanques này khá giống với fjord của Bắc Âu (xem bài khám phá quần đảo Lofoten).  Điểm đặc trưng của các calanque là bề mặt đá vôi hóa thạch của vách núi, có thâm niên hàng chục triệu năm. 


Các calanques này thực ra không chỉ có ở miền nam nước Pháp mà còn ở rất nhiều quốc gia nằm ven rìa Địa Trung Hải (Ý, Croatia, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, …) nhưng các calanques của Pháp và đặc biệt là gần Marseilles thì được quy hoạch tốt hơn cả và được tạo thành rừng quốc gia với các đường đi trekking được chỉ dẫn hiệu quả. Bản thân tôi cũng đã đi qua nhiều danh lam thiên nhiên quanh địa Trung Hải có vẻ đẹp tương tự như calanque nhưng chỉ có của Pháp là được Unesco công nhận là di sản thế giới, có lẽ vì quy mô chiều dài của nó (hơn 30km)

Dọc theo bờ biển gần Marseilles là hơn 30km calanques nhưng không thể nào đi một mạch trong một ngày được vì có những đoạn rất khó leo trèo và đòi hỏi du khách phải là dạng cứng cựa trong lĩnh vực du lịch mạo hiểm và tất nhiên là phải trâu bò một chút. Thêm nữa, đi trekking một mình ở những vùng như thế này thì đòi hỏi phải biết cách đọc bản đồ trekking và xác định phương hướng tốt. Nếu không có 2 khả năng này thì chắc là ngồi khóc. 

bản đồ trekking khác hẳn bản đồ thành phố với nhiều ký tự chuyên ngành. Nếu bạn không biết đọc bản đồ kiểu này thì đừng nghĩ đến chuyện đi trekking một mình
ngoài ra, bạn cần phải con mắt nhạy bén, phát hiện ra các dấu chỉ dẫn đường đi, thường được đánh dấu bằng sơn trên vách đá hoặc thân cây
 Một điểm khó khăn mà tôi gặp phải, đó là cần phải có ôtô  cá nhân thì mới chủ động trong việc đi lại (tôi không có bằng lái). Phương tiện duy nhất có thể dùng được là xe bus nhưng mà tuyến xe bus đến được calanques thì không nhiều. Chính vì thế, tôi phải phân chia cuộc khám phá calanques ra làm 2 ngày. Mỗi ngày tôi dùng xe bus đến một điểm xuất phát và thăm một khúc đoạn rồi đến chiều quay lại Marseilles để hôm sau lại dùng xe bus đến một điểm khác . Vì calanques rất nổi danh trong con mắt dân Pháp nên họ hay đến đây trekking vào mùa hè và đặc biệt là vào cuối tuần. Chính vì lý do đó, tôi phải chọn đến Marseilles vào cuối tháng 4 và vào trong tuần. Tha hồ mà một mình khám phá calanques ! 

Điểm xuất phát đầu tiên của tôi là thị trấn Cassis cách Marseilles 30km về phía đông và hoàn toàn có thể bắt xe bus để đến đó. Từ thị trấn này, tôi đi dọc theo bờ biển và đến calanques đầu tiên có tên là Port Miou. Đây là điểm calanque duy nhất là người ta có thể dùng xe ô tô đến. Sau điểm này là địa phận của công viên quốc gia và du khách chỉ được phép đi bộ. Oái oăm hơn nữa là ở đây cấm không cho cắm lều ngủ qua đêm trong công viên, thế nên buộc phải thăm calanque trong 1 ngày rồi nhanh chóng quay về đại bản doanh ở Marseilles vào buổi chiều. 


 À quên, cũng phải nói thêm là khu vực công viên quốc gia này hay gặp hỏa hoạn vào mùa hè nên không phải calanque nào cũng được cho phép đặt chân đến. Trước hôm tôi đi lại phải hỏi hội tourist office để xem calanque nào được phép thăm. Mà hỏi hội này là phải bằng tiếng Pháp, đồng chí nào mà một chữ bẻ đôi không biết thì miễn đến đây. 


Sau calanque Port Miou là calanque Port Pin, nơi có một bãi biển nhỏ rất đẹp. Màu nước turquoise trong vắt khiến tôi cảm thấy cần phải cởi bỏ hết đồ nghề trekking và ngâm mình cho mát. Tại sao gọi là Pin ? Bởi vì ở đây lốm đốm các cây thông mọc trên bề mặt đá vôi của calanque.  


Điểm tiếp theo, calanque En Vau, theo tôi, là calanque đẹp nhất trong tất cả nhờ vào vực thẳm rất cao và đây cũng là điểm calanque đòi hỏi thể lực cao nhất. Nếu như có một thiên đường hạ giới thì có lẽ En Vau là một trong số đó. 


Những vực thẳm sâu hoắm như những bức tường vôi trắng khổng lồ ngụp lặn thẳng vào làn nước turquoise trong suốt. Và rồi sau đó, một bãi biển nhỏ trốn sâu trong hẻm vực, đánh dấu điểm dừng chân cuối cùng của tôi trong ngày đầu tiên. 

chiều ngược lại, tôi không đi dọc theo bờ biển nữa mà lại đi sâu hơn vào đất liền, lần theo những nẻo đường núi treo leo
 Sau đó, tôi buộc phải dành thời gian quay lại thị trấn Cassis để còn kịp bắt chuyến xe bus cuối cùng quay trở lại Marseilles. Nhưng thay vì lại phải sử dụng con đường cũ để quay lại, tôi sử dụng những con đường núi đi sâu hơn vào đất liền. 


Chỉ dài có 5km nhưng tôi cũng phải mất hơn 2 tiếng mới quay lại được Cassis, một phần là do đường núi mấp mô phần khác là do trời nóng quá.   

Ngày thứ 2 , tôi lại tiếp tục bắt xe bus để khám phá một khúc khác, lần này thì gần Marseilles hơn. Với tổng chiều dài là 15km đi bộ, tôi phải mất gần 7 tiếng hùng hục thì mới hoàn thành xong nghĩa vụ. 


 Ngày thứ 2 này thực sự tốn nhiều năng lượng hơn hôm đầu vì một số đoạn lên xuống gập ghềnh khá là nguy hiểm và đôi khi phải đòi hỏi dụng cụ leo núi.  Leo lên đỉnh đồi Sugiton là chướng ngại vật đầu tiên, rất vất vả. 

đường lên đỉnh Sugiton có nhiều đoạn quanh co và rất hẹp, chỉ rộng khoảng nửa mét và các bước chân rất trơn đòi hỏi phải rất cẩn thận
Tại những nơi như thế này, thường chỉ có dân yêu du lịch mạo hiểm hoặc là người địa phương. Hôm tôi đi thì có gặp 2 nhóm người Pháp, cũng từ các tỉnh lân cận đến

 Có những chỗ rất hẹp và được trang bị sẵn thang leo và dây xích sắt. Tuy nhiên cũng phải sử dụng găng tay và giầy  đặc biệt cho leo núi. Có lẽ vì nguy hiểm như vậy nên ít người ló mặt ở khu này hơn. 

Chỉ có những ai đủ dũng cảm thì mới thử sức với calanque Sugiton, trong đó có một đồng chí bốn mắt Việt Nam. Nhưng khi lên được đỉnh rồi thì miễn chê. Tại đây, có thể có được cái nhìn toàn cảnh dải calanque quanh co dọc theo bờ biển. 

 Thất tuyệt vời ! Những tảng đá vôi trắng muốt pha lẫn với màu cây thông và màu xanh turquoise của biển. 
Sau calanque Sugiton là calanque Morgiou, có lẽ là lớn nhất trong khu vực. Sườn thung lũng khá là sâu. Thi trấn Morgiou nằm tận dưới đáy thung lũng rất đặc trưng kiểu cách Địa Trung Hải bởi đây đã từng là làng chài cá. 



Tuesday, June 19, 2012

khám phá trường đại học Coimbra


Thăm trường đại học ? Ở Châu Âu, chỉ có 5 trường đại học là có lịch sử lâu đời nhất và đáng để tìm hiểu về mặt kiến trúc cũng như cuộc sống đời thường của các sinh viên :  Salamanca (Tây Ban Nha), Bologna (Ý), Sorbonne (Pháp) ,Oxford (Anh) và cuối cùng là Coimbra của Bồ Đào Nha. Tôi may mắn thăm được 4 cái trừ Oxford của Anh. 


 Được thành lập vào thế kỷ XIII, trường đại học Coimbra ngay từ đầu là một trung tâm văn hóa hàng đầu của Bồ Đào Nha và thu hút rất nhiều sinh viên Châu Âu. Nhưng chính điều đó lại là vấn đề vì nhiều sinh viên quá thì không có đủ chỗ ở. Thế là trường Coimbra bị chuyển về Lisbon và tọa lạc tại thủ đô trong vòng 200 năm. Sau đó, vua Bồ Đào Nha cảm thấy nhiều sình viên ở thủ đô quá nên…lại cho chuyển về Coimbra nhưng lần này vị vua tôt bụng ban tặng cả tòa cung điện mùa hè tại Coimbra để làm ký túc xá. Thế kỷ XVI là thời kỳ vàng son của trường đại học Coimbra nói riêng và Bồ Đào Nha nói chung khi quốc gia này trở thành cường quốc về thương mại đường biển. 


Toàn bộ khuôn viên trường Coimbra nằm trọn trên một quả đồi và muốn đi lên đó thì phải qua các con phố nhỏ quấn khúc quanh  co bên sườn đồi. 


 Cái đáng thăm nhất của trường đại học Coimbra là thư viện Joanine nổi bật với bài trí nội thất cực kỳ hoành tráng. Vật liệu nội thất được nhập từ các thuộc địa của Bồ Đào Nha vào thế kỷ 16 bao gồm : gỗ đen từ Brazil, vàng và đá cẩm thạch từ Châu Phi.  


 Toàn bộ bề mặt tường đều được bao phủ bởi các giá sách làm bằng gỗ sơn mài nhiều màu với kiểu bài tiết sặc sỡ mang nhiều ảnh hưởng của phương Đông (đặc biệt là Trung Quốc).   Thư viện này chứa khoảng 250.000 đầu sách và được phân chia theo niên đại từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Và những lĩnh vực có nhiều đầu sách nhất là môn luật, triết học và tôn giáo học.  


Tại sao người Châu Âu và đặc biệt là giới trí thức thời ấy lại chú trọng những môn học này đến vậy ? Riêng về điểm này, tôi xin giải thích qua một chút vì nó có thể giúp các bạn có được những kiến thức cơ bản để hiểu rõ hơn nền văn minh Châu Âu. Vào thời Trung Cổ, dân Châu Âu nó ngu lắm. Tất cả những gì liên quan đến kiến thức hiểu biết đều nằm trong tay những người biết chữ và những người biết chữ thì chỉ nằm trong thiểu số (tầng lớp thượng lưu, vua chúa và tăng lữ). Và nơi truyền giáo kiến thức thì không nằm đâu khác ngoài Thiên Chúa giáo (nhà thờ, tu viện). Và cũng chính từ các trung tâm tu viện này mà khơi mào lên phong trào xây dựng các trường đại học với mục đích đầu tiên là đào tạo ra những chuyên gia nghiên cứu về các đạo luật của Thiên Chúa giáo vào thế kỷ 13 (mục đích chính là để mị dân). Các trường đại học cổ nhất Châu Âu lần lượt sinh ra vào thời điểm này (Oxford, Sorbonne, Bologna, Coimbra). Như đã nói, vào những thế kỷ đầu, môn học chính chỉ giới hạn đến việc nghiên cứu đạo. Nhưng dần dần, các môn khác được bổ sung thêm bao gồm triết học, khoa học, văn học, y học…


Chính vì có nguồn gốc tôn giáo mà hầu hết các trường đại học có niên đại vài trăm năm của Châu Âu đều có ít nhất một nhà thờ bên trong. Đó là nơi các sinh viên sùng đạo lui đến tĩnh tâm hay sám hối.  Tôi đã từng đi thăm khá nhiều trường đại học Châu Âu có thâm niên hơn 200 năm và đều có điểm chung đó. Còn tại Coimbra, nhà thờ quan trọng nhất của trường đại học là thánh đường Saint Michael. 

  
Coimbra được mệnh danh là « thành phố sinh viên » không chỉ bởi tầm quan trọng bậc nhất về giá trị lịch sử mà còn là nơi có đông sinh viên nhất Bồ Đào Nha (30% dân số là dân sinh viên). Lý do tôi cất công đến đây không phải là vì giá trị lịch sử của Coimbra mà là những nét sống rất độc đáo của sinh viên nơi đây.


Thứ nhất là phải kể đến trang phục. Khác hoàn toàn với 4 trường đại học cùng thâm niên khác (Sorbonne, Oxford, Bologna, Salamanca), toàn bộ sinh viên nơi đây đều mặc đồng phục suốt năm chứ không chỉ tập trung vào dịp tốt nghiệp. Khi tôi đi khắp khuôn viên trường, có thể nhận thấy các sinh viên ăn mặc rất lịch sự như nhân viên nhà bank. 


Ai cũng thắt cà vạt, cả trai cả gái nhưng có một điểm nữa rất đặc biệt là họ mang theo một dải khăn treo đầy huy chương. Tôi có hỏi một vài sinh viên liệu có phải họ chỉ mang nó vào những sự kiện lớn của trường hay không. Câu trả lời là không. Trên thực tế, tất cả sinh viên đều có bộ trang phục này và đều mặc nó mỗi khi lên giảng đường. Tất nhiên không phải tất cả đều siêng năng lần nào cũng mặc bộ đó, giống như học sinh cấp 2 nhà mình đâu phải ai cũng chịu khó đeo khăn quàng đỏ. 


 Đặc thù đồng phục của Coimbra còn được nhấn mạnh hơn vào tuần lễ bế giảng của trường vào đầu tháng 5, người Bồ Đào Nha gọi là la queima das fitas. Nhân dịp này, Coimbra có một truyền thống là các sinh viên năm đầu tiên đi mua bộ đồng phục như nói ở trên tại một cửa hàng đồng phục của trường và gìn giữ bộ đồng phục đó cho đến hết năm cuối. Giá thành khá là đắt, khoảng 400 euro một bộ.   


Sinh viên năm đầu thì vậy, thế còn sinh viên năm cuối thì sao ? Ở Coimbra có một truyền thống là họ đốt dải dây có mầu sắc được phân theo chuyên ngành học. Dải dây này được giữ trong suốt quá trình học, giống như đồng phục và chỉ nhân dịp tốt nghiệp thì mới đốt. Tất cả dải dây được đốt trong một cái hũ khổng lồ và đây chính là nguồn gốc sâu xa của tuần lễ bế giảng. Thật vậy, la queima das fitas trong tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là « đốt cháy các dải dây ». 


 Ngoài những bộ đồng phục, sinh viên Coimbra còn nổi tiếng là yêu ca nhạc. Nếu như cây đàn ghita gắn liền với đời sống sinh viên Việt Nam thì điệu hát fado là đặc sản của Coimbra. Duy chỉ có một điều khác, ghita thì chỉ cần một người biết chơi là OK. Còn fado thì phức tạp hơn, đòi hỏi phải thành lập thành một đội : một người hát dòng fado, một người chơi đàn ghita cổ điền Bồ Đào Nha (hình thù kỳ dị, giống quả lê) và người chơi accordéon. 


 Tại đây, mỗi khoa đều có một ban nhạc chơi fado và họ thường biểu diễn vào những dịp lớn như la queima das fitas. Họ vừa chơi vừa mặc đồng phục của trường cộng với việc đeo dải dây có màu sắc đặc trưng chuyên ngành học của họ. Dưới đây là sinh viên khoa y với dải dây màu tím. 


Đặc thù cuối cùng của trường Coimbra là các ký túc xá mà dân sinh viên ở đây gọi là republicas. Nằm trong phần cổ nhất của trường đại học, các ký túc xá này có đặc điểm không phải do trường Coimbra quản lý mà là do chính hội sinh viên quản lý. 

 
Theo truyền thống lâu đời, đây là các căn hộ lớn mang tính tư nhân . Các khu căn hộ được phân chia theo chuyên ngành học, vì thế có khu dành cho dân khoa y, khoa tin, khoa xây dựng… Mỗi một căn hộ chứa khoảng hơn 10 sinh viên và có một « thủ lĩnh » và họ phân công nhau quản lý tiền sinh hoạt của căn hộ. Nhìn từ bên ngoài vào, rất dễ nhận ra đâu là ký túc xá sinh viên bởi trên bề mặt tường có gắn các biệt hiệu đặc tính sinh viên : cờ, vẽ bậy, xoong  nồi treo loạn xạ…


 

Saturday, June 2, 2012

Festival Trung Cổ ở đảo Gotland


Sau vài buổi đi khám phá quần đảo Stokholm bằng Kayak, tôi quyết định đổi món, chuyển sang khám phá một cái gì đó thiên hướng lịch sử một chút. Đi đến Bắc Âu mà không tìm hiểu lịch sử người Viking thì hơi phí. Và thế là tôi quyết định đi đến hòn đảo Gotland, được coi là hòn đảo lớn nhất của vùng biển Ban-tích. Tôi cũng rất may mắn là tình cờ đặt chân đến hòn đảo này vào đúng giữa tháng 8, là giai đoạn diễn ra tuần lễ festival Trung Cổ và có dịp tận hưởng những giây phút tuyệt vời đắm chìm vào không gian của thế kỷ 14…


Do nằm chính giữa vùng biển Ban-tích nên đảo Gotland có một vị trí rất thuận lợi cho việc buôn bán đường biển và nhiễm nhiên trở thành một mắt xích rất quan trọng trong mạng lưới thương mại khu vực Bắc Âu thời Trung Cổ. Minh chứng hùng hồn nhất cho lịch sử một ngàn năm của hòn đảo này chính là cảng Visby, được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới. Đến được cảng này cũng dễ lắm, chỉ mất khoảng 4 tiếng đi tàu phà trực tiếp từ thủ đô Stockholm.  


Đáp đến đảo Gotland là phải qua thị trấn Visby vì đây là cảng tàu duy nhất và cũng là thị trấn duy nhất của đỏa. Thị trấn này tuy nhỏ vậy nhưng cũng được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới nhờ giữ được giá trị văn hóa lịch sử hơn 1000 năm. Đây là một ví dụ quá điển hình cho cấu trúc đô thị thời Trung Cổ và chúng ta có thể thấy nó dập khuôn tại bất cứ thị trấn nào cùng thời ở những quốc gia Châu Âu khác : một nhà thời lớn, một hệ thống giao dịch thương mại, nhà dân, kho thóc, và một hệ thống tường thành kiên cố bọc xung quanh. 


Điểm đặc biệt mà tôi rất nể người của hòn đảo này đó là ý thức rất cao về việc bảo tồn những giá trị văn hóa lịch sử của họ.  Trong vòng một tuần, tất cả dân thị trấn cùng nhau ăn mặc lại những trang phục của thế kỷ 13 và tình nguyện tham gia vào những vị trí như thợ rèn, thợ làm bánh, thợ kim hoàn để biểu diễn cho khách du lịch xem. Họ không nhận được một xu thù lao nào trong tuần lễ festival Trung Cổ nhưng họ vẫn hào hứng tình nguyện bởi đó là niềm tự hào dân tộc Viking. 

ngay từ đầu giờ chiều, dân thị trấn háo hức chuẩn bị  những bộ đồ Trung Cổ đẹp nhất của mình và ra nhập hội cùng người khác chuẩn bị diễu hành
Theo như người ta nói, chính quyền địa phương cũng đầu tư may các bộ quần áo quân phục để phục vụ cho một cuộc biểu diễn đánh nhau rất hấp dẫn
Các lều được dựng lên sao cho giống với thời kỳ Trung Cổ trong thời loạn lạc. Ở đây, mỗi một lều là một chủ đề liên quan đến một khía cạnh của cuộc sống thới ấy. Có thể là về việc chế tạo pho mát, cách rèn kiếm, cách tạo bột mì...

Tôi nghĩ tại sao Việt Nam chúng ta không học theo cách quy hoạch của họ để phát triển du lịch ở Việt Nam vì phương pháp của họ quá tốt. Cùng được xây dựng theo kiểu viện bảo tàng ngoài trời nhưng du khách khám phá lịch sử Viking một cách rất thú vị, họ được trực tiếp tham gia các tiết mục trò chơi khơi lại cuộc sống đời thường của người Viking xưa kia, từ việc bắn cung đến ném rìu,rồi cách săn bắt cá hoặc cách làm bánh mì…
Các cô gái này cũng chỉ là học sinh cấp 2 địa phương. Trước khi tuần lễ festival bắt đầu, trường học của họ đã có những buổi giới thiệu khá chi tiết và sống động về lối sống của các thiếu nữ thời Trung Cổ. Nhờ những tư liệu lịch sử phong phú, họ có thể mường tượng ra những điễu nhảy dân gian thời ấy và biểu diễn lại một cách xuất sắc
2 cô cậu này đến từ thủ đô Stokholm và biết cách thổi sáo nhờ việc tự học. Họ cất công đường xa đến đây và sãn sàng nhập vai và hòa mình cùng festival
Cha con đang nghỉ giải lao và ăn tối sau một buổi chiều đi bộ mỏi chân. Tuy mặc quần áo cổ trang nhưng hình như món cocacola và sanwich chưa tồn tại ở thế kỷ 13!!
vào tầm 18h là thời điểm đỉnh cao nhất của ngày với cuộc diễn lại các trận đánh cách đây hơn 1000 năm. Cuộc chiến giữa các hiệp sĩ

Sau khi cuộc diễn đó tan tầm, tôi thấy trời còn rất sáng mặc dù đã hơn 19h rồi. Mùa hè ở Thụy Điển quả là thời điểm lý tưởng để ra ngoài vì trời sáng rất lâu. Vào tầm tháng 8 như thế này, phải đợi đến tầm 23h thì trời mới tối hẳn. Thế nên tôi dành chút thời gian đi dạo ven theo đảo Gotland vì hòn đảo này cũng chẳng to lắm
Vẻ đẹp đồng quê thanh tịnh khiến lòng tôi cảm thấy rất thanh thản. Và để thêm phần sinh động, tôi vừa đi vừa nghe MP3, đặc biệt là bài Hotel California..."...cool wind in my hair..."
Ngoài festival Trung Cổ thì đảo Gotland còn nổi tiếng với dải cột đá vôi có tuổi đời hàng triệu năm.

Cách tạo ra những cột đá vôi khổng lồ như thế này cũng khá giống nhiều nơi khác trên thế giới như thung lũng Cappadocia ở Thổ Nhĩ Kỳ hay Grand Canyon ở Mỹ. Hồi xưa cách đây hàng triệu năm mực nước biển cao hơn bây giờ vài trăm mét và bao phủ toàn bộ đảo Gotland và chỉ có những cái cột đá vôi này ngoi được đỉnh lên trên mặt nước . Sau đó, khi bắc cực và nam cực đóng băng, mực nước biển hạ dần xuống. Các cột đá vôi nhờ đó ngày càng ngoi lên trên bề mặt nước và với sức mạnh của gió và cát, những dòng khí xượt qua sườn các cột đá làm cho kích thước các cột bị teo đi ở giữa.